Chào mừng quý vị đến với website của thư viện ông ích đường
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
BDHSG Lớp 9

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thu Hồng
Ngày gửi: 07h:39' 23-01-2024
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thu Hồng
Ngày gửi: 07h:39' 23-01-2024
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
thuvienhoclieu.com
TÀI LIỆU BỒI
DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI
Môn Văn 9
LÍ LUẬN
VĂN HỌC THEO
CHỦ ĐỀ
thuvienhoclieu.com
Trang 1
thuvienhoclieu.com
MỤC LỤC
PHƯƠNG PHÁP ÔN THI HSG HIỆU QUẢ
CHUYÊN ĐỀ 1: TÁC PHẨM VĂN HỌC
1.Tác phẩ m văn ho ̣c là gì?
2. Nguồn gốc của tác phẩm văn học
2.1. Những nhận định về nguồn gốc của tác phẩm văn học
2.3 Những nhận định về nguồn gốc
3. Những đặc điểm của tác phẩm
3.1. Tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể.
3.2.Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học.
3.3.Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức tác phẩm văn học.
3.4.Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học
3.5. Những nhận định về hình thức và nội dung
CHUYÊN ĐỀ 2: CÁC CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC
1. Nhận định về các chức năng của văn học
2. Chức năng nhận thức.
3. Chức năng giáo dục.
4. Chức năng thẩm mĩ …
5. Mối quan hệ giữa các chức năng văn học.
CHUYÊN ĐỀ 3: NỘI DUNG CỦA VĂN HỌC
1. Những nhận định về nội dung của văn học
2.Tác phẩm văn học phản ánh những gì?
3.Hình tượng văn học
CHUYÊN ĐỀ 4: TÁC PHẨM TRUYỆN
1.Nhận định về tác phẫm truyện ( Nhân vật, chi tiết, tình huống)
2.Nhân vật
2.1 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm.
2.2 Các loại nhân vật văn học.
2.3 Một số biện pháp xây dựng nhân vật.
3. Chi tiết trong tác phẩm truyện
3.1.Chi tiết trong tác phẩm là gì?
thuvienhoclieu.com
Trang 2
thuvienhoclieu.com
3.2 Đặc điểm và vai trò của chi tiết trong tác phẩm truyện
3.3 Ý nghĩa của chi tiết trong tác phẩm
3.4Cách cảm nhận chi tiết trong tác phẩm truyện.
4. Tình huống truyện
4.1. Tình huống truyện là gì?
4.2. Vai trò của tình huống truyện
4.3 Phân loại tình huống truyện
4.4 Cách xác định tình huống truyện.
CHUYÊN ĐỀ 5: THƠ
1. Những nhận định về thơ.
2. Thơ là gì?
3. Những đặc trưng ngôn ngữ thơ
2.1. Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính
2.2. Ngôn ngữ thơ có tính hàm súc
2.3. Ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm
2.4. Tính đa nghĩa của từ cũng tạo nên vẻ đẹp cho ngôn ngữ thơ ca:
2.5. Ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ có nhịp điệu, không có nhịp điệu
thì không thành thơ.
2.6. Ngôn ngữ thơ ca không đối lập với ngôn ngữ toàn dân. Nó tiếp
thu tinh hoa của ngôn ngừ thường nhật không ngừng nâng cao, làm giàu thêm
ngôn ngữ toàn dân.
2.7.Tham khảo bài văn hay, nhận định về ngôn ngữ thơ.
3.Nội dung của thơ
3.1 Thơ là tiếng nói của tình cảm
3.2. Những nhận định về nội dung tình cảm trong thơ
3.3 Thơ phản ánh cuộc sống
3.4.Nhận định về nội dung thơ phản ánh cuộc sống
4. Sáng tạo trong thơ.
5. Để sáng tạo và lưu giữ một bài thơ hay.
thuvienhoclieu.com
Trang 3
thuvienhoclieu.com
CHUYÊN ĐỀ 7: ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH THÀNH PHỐ,
CÓ ĐÁP ÁN CHI TIẾT
STT
NỘI DUNG ĐỀ THI HỌC SINH GỎI
1
Làm thơ là cân một phần nghìn 0milligram quặng chữ” (Mai-a-cop-ki).
Anh chị hiểu ý kiến trên như thế nào. Chứng minh qua một số bài thơ anh
chị đã học hoặc đọc thêm.
2
“Thơ hiện đại không chỉ đem lại những cái mới về nội dung tư tưởng,
cảm xúc mà còn đổi mới về phương thức biểu cảm, về sáng tạo hình ảnh,
cấu trúc câu thơ, ngôn ngữ thơ.”
(Ngữ văn 9, tập 2, trang 200, NXB GD, 2004)
Anh (chị) hãy làm sáng rõ nhận định trên qua tác phẩm Ánh trăng của
Nguyễn Duy.
3
.3 Trong văn bản “Tiếng nói văn nghệ”, Nguyễn Đình thi có viết: “Nghệ
thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa
trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy”.
Qua văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, em hãy
làm sáng tỏ ý kiến trên./.
4
4 Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 ngoài hình ảnh người
chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc còn mang nhịp thở của con
người lao động mới.
Bằng những hiểu biết về văn học giai đoạn này, em hãy làm sáng tỏ nhận
định trên.
5
5 Nhà văn Nguyễn Dữ đã kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương
bằng chi tiết Vũ Nương hiện về gặp chồng rồi sau đó biến mất.
Có ý kiến cho rằng: giá như nhà văn để Vũ Nương trở về trần gian sống
hạnh phúc cùng chồng con thì kết thúc của truyện sẽ có ý nghĩa hơn. Có
người lại nhận xét: cách kết thúc của tác giả như vậy là hợp lí.
Suy nghĩ của em về hai ý kiến trên..
6
6 “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng
riêng...” (Nguyễn Đình Thi, Tiếng nói của văn nghệ)
Em hiểu như thế nào về ý kiến trên? Hãy nói về “ánh sáng riêng”
mà truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long đã “rọi vào” tâm
thuvienhoclieu.com
Trang 4
thuvienhoclieu.com
hồn em.
7
7 Có nhận định rằng: "Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu
hiện một triết lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người
đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng
của cuộc đời. Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha
mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất".
Qua bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt. Em hãy làm sáng rõ nhận định
trên.
8
Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, ngoài hình ảnh người
chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc còn mang nhịp thở của con
người lao động mới.
Bằng những hiểu biết về văn học giai đoạn này, em hãy làm sáng tỏ nhận
định trên
9
Vẻ đẹp trong lối sống, tâm hồn của nhân vật anh thanh niên trong “Lặng
lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long và nhân vật Phương Định trong
“Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê.
10
“Niềm vui của nhà văn chân chính là được làm người dẫn đường đến xứ
sở của cái đẹp”.
Hãy khám phá “xứ sở của cái đẹp” qua văn bản Đoàn thuyền đánh cá
(Huy Cận, Ngữ văn 9, tập 1.
11
Trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó”
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích giá trị tư tưởng
nhân đạo trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của
Nguyễn Dữ để làm sáng tỏ ý kiến trên.
12
“Dù viết về cái gì, văn chương chân chính cũng hướng về con người.
Viết về cái xấu để cảnh tỉnh con người, để báo động giúp con người sống
với bản lĩnh tốt đẹp của mình. Viết về cái tốt để con người tự tin ở mình
và đó chính là hành trang cần có ở con người trong cuộc hành trình tới
tương lai.”
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua
thuvienhoclieu.com
Trang 5
thuvienhoclieu.com
bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.
13
“Tinh thần nhân đạo trong văn học trước hết là tình yêu thương con
người”
(Đặng Thai Mai – “Trên đường học tập và nghiên cứu” - NXB Văn học
1969)
Chứng minh ý kiến trên qua tác phẩm “Chuyện người con gái Nam
Xương” của Nguyễn Dữ. (SGK, Ngữ văn 9, tập I)
14
Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, ngoài hình ảnh người
chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc còn mang nhịp thở của con người
lao động mới.
Bằng những tác phẩm thơ văn đã học, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
15
"Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở
thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn
nói một điều gì mới mẻ."
(Nguyễn Đình Thi, Tiếng nói của văn nghệ)
16
Một trong những phương diện thể hiện tài năng của người nghệ sĩ ngôn
từ là am hiểu và miêu tả thành công thế giới nội tâm của nhân vật trong
tác phẩm văn học. Bằng những kiến thức đã học về đoạn trích: “Kiều ở
lầu Ngưng Bích” (Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) em hãy làm sáng
tỏ điều đó?
17
Có ý kiến cho rằng: “Cảnh vật và tâm trạng trong thơ Nguyễn Du bao giờ
cũng vận động chứ không tĩnh tại”.
Qua hai trích đoạn “Cảnh ngày xuân” và “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du), hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
18
Trong văn bản “Tiếng nói văn nghệ”, Nguyễn Đình thi có viết: “Nghệ
thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa
trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy”.
Qua văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, em hãy làm sáng
tỏ ý kiến trên
19
Cùng viết về tình cha con nhưng hai tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao và
Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng lại có những khám phá sáng tạo
riêng, độc đáo.
thuvienhoclieu.com
Trang 6
thuvienhoclieu.com
Bằng cảm nhận về tình cha con trong hai tác phẩm, em hãy làm sáng tỏ
nhận định trên.
20
Nhà thơ Pháp Andre Chanien từng nói: "Nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ,
trái tim mới làm nên thi sĩ."
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua Mùa xuân nho nhỏ
của nhà thơ Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục, 2004.
21
Vẻ đẹp trong lối sống, tâm hồn của nhân vật anh thanh niên trong "Lặng
lẽ Sa Pa" của Nguyễn Thành Long và nhân vật Phương Định trong
"Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê.
22
"...Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây
truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng."
(Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9, tập 2)
Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
23
Một tác phẩm văn học có giá trị vừa là chứng tích của một thời,
vừa là hiện thân chân lý giản dị của mọi thời.
Bằng những hiểu biết về tác phẩm "Chuyện người con gái Nam
Xương " của Nguyễn Dữ, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
24
Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng,
không bao giờ nhòa đi, ánh sáng ấy bấy giờ biến thành của ta, và chiếu
tỏa lên
mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt
ta nhìn, óc ta nghĩ.
(Trích Tiếng nói văn nghệ - Nguyễn Đình Thi)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy viết về thứ “ánh sáng riêng” của
một vài tác phẩm trong chương trình ngữ văn lớp 9 tập 1 đã “chiếu tỏa”
“làm
cho thay đổi hẳn” cách nhìn, cách nghĩ của em về con người và cuộc
sống.
25
Đại văn hào Nga M.Gorki (1868-1936) viết: "Mỗi tác phẩm văn học đều
là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên tôi tách khỏi dần con thú để lên tới
thuvienhoclieu.com
Trang 7
thuvienhoclieu.com
gần con người..."
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua hai tác phẩm "Đoàn thuyền đánh
cá" của Huy Cận và "Ánh trăng" của Nguyễn Duy để làm rõ phần nào
nhận định trên?
.
thuvienhoclieu.com
Trang 8
thuvienhoclieu.com
PHƯƠNG PHÁP ÔN THI HSG HIỆU QUẢ
1. Lựa chọn học sinh.
Đây là bước quan trọng trước khi bắt đầu ôn luyện bồi dưỡng. Bởi vì, có
lựa chọn kĩ lưỡng, đúng khả năng, phát hiện tố chất văn chương của các em thì
mới hiệu quả trong công tác bồi dưỡng. Trong khi theo xu thế thời đại, các em
ngại học văn, người dạy đội tuyển còn phải vừa dạy vừa “dỗ” rất vất vả. Nhưng
giáo viên hãy coi đó là thử thách, vượt qua được sẽ đến thành công.
Bước lựa chọn có thể tiến hành theo cách: Trước hết, giáo viên đứng
đội tuyển tìm hiểu lực học môn Ngữ văn THCS của học sinh; đọc kĩ các bài thi
kiểm tra thường xuyên trên lớp, các bài thi khảo sát của học sinh. Sau đó lựa chọn
những bài đạt điểm cao, trình bày rõ ràng, có cảm xúc. Sau đó, giáo viên tiếp tục
ra đề kiểm tra riêng nhóm học sinh đã lựa chọn vào đội tuyển. Các bài kiểm tra
phải hướng chọn lựa năng lực, kĩ năng học sinh như: Biết nhận diện phân tích
dạng đề, kiểu bài; Kĩ năng lập dàn ý, tạo lập văn bản; Kĩ năng trình bày, diễn đạt
các luận điểm; Kĩ năng phân tích cảm thụ từng chi tiết trong tác phẩm; Kĩ năng
liên hệ so sánh, bình luận, đánh giá…
VD: Một số đề kiểm tra năng lực, kĩ năng học sinh qua tác phẩm “Thuật hoài”
của Phạm Ngũ Lão (SGK Ngữ văn 10):
Câu 1. Chữ “thẹn” trong bài thơ “Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão. Bài tập này
nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ chi tiết trong tác phẩm văn học của học sinh. Học
sinh phải lí giải được: Tại sao tác giả lại “thẹn”? Các ý nghĩa của chữ “thẹn”.
Câu 2. Vẻ đẹp người anh hùng trong bài thơ “Thuật hoài” - Phạm Ngũ Lão. Bài
tập này nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ tác phẩm, các kĩ năng phân tích, so sánh,
đánh giá, bình luận của học sinh.
Trong quá trình chấm bài, giáo viên chỉ ra những mặt mạnh và yếu qua bài
làm của từng học sinh nhằm tạo sự đồng đều trong cách dạy học và tinh thần học
tập lẫn nhau của các em.
2. Bồi dưỡng học sinh giỏi.
* Xây dựng kế hoạch dạy và học:
Xây dựng kế hoạch ôn luyện bồi dưỡng theo các chuyên đề phù hợp với
thời gian dự kiến: Chuyên đề rèn luyện kĩ năng làm văn; Chuyên đề lí luận văn
học; Chuyên đề nghị luận xã hội; Chuyên đề nghị luận văn học… Tích cực soạn
giáo án theo các chuyên đề thật chi tiết, mở rộng nâng cao nhiều kiến thức, hệ
thống bài tập phải thật sự phong phú đa dạng. Chấm, chữa bài học sinh cẩn thận
và chu đáo sau mỗi chuyên đề giảng dạy. Tạo không khí cởi mở, hứng thú cố gắng
khẳng định mình trong các bài viết tiếp theo của học sinh. Cung cấp các tài liệu
đọc tham khảo cho học sinh hoặc gợi ý tư liệu cho học sinh tìm kiếm và tự tích
lũy.
thuvienhoclieu.com
Trang 9
thuvienhoclieu.com
* Tiến hành bồi dưỡng theo chuyên đề: Các chuyên đề bồi dưỡng học
sinh giỏi khá công phu. Để đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần phối hợp nhịp nhàng,
linh hoạt các khâu trong quá trình ôn luyện và học tập trên lớp. Trong dung lượng
bài viết này, tôi xin trao đổi một vài kinh nghiệm trong việc ra đề và rèn luyện kĩ
năng làm văn của học sinh lớp 10.
* Định hướng ra đề thi:
Việc ra đề là khâu quan trọng đầu tiên của quá trình phát hiện, đánh giá, lựa
chọn học sinh giỏi. Bởi vì, đề đúng và hay sẽ kích thích hứng thú sáng tạo trong
làm bài của học sinh, tránh đi những lối viết sáo mòn, ghi nhớ máy móc kiến thức.
Từ đó, giáo viên có thể đánh giá khách quan, công bằng, chính xác năng lực học
sinh.
Đề văn hay trước hết phải là một đề văn đúng: Đề văn thể hiện ở lập trường tư
tưởng và quan điểm thẩm mĩ đúng đắn. Đồng thời, tính đúng đắn còn thể hiện ở
việc trích dẫn đúng câu chữ và đúng quy cách; đúng phạm vi kiến thức, đúng mức
độ, kiểu bài với những yêu cầu sáng sủa rõ ràng. Đề văn hay là đề không chỉ đúng
mà còn phải đủ một số điều kiện như: Đề văn phải “vừa lạ vừa quen”; đề phải có
chất văn, phải gây được cảm hứng; đề phải phân hóa được đối tượng.Với những
điều kiện cần và đủ như trên của một đề văn hay, cùng với xu hướng đổi mới của
Bộ giáo dục dạy học theo hướng đánh giá năng lực của học sinh, tôi ra đề theo
hướng mở: Thứ nhất, tăng cường các đề thi tích hợp gắn liền với thực tiễn đời
sống, đặc biệt là đề nghị luận xã hội. Có thể ra đề với những vấn đề gần gũi với
học sinh như tư tưởng đạo đức lối sống, các vấn đề xã hội mang tính thiết yếu, cập
nhật như đọc sách, môi trường, bạo lực học đường… Thứ hai, đặc biệt với các đề
nghị luận văn học, cần ra đề nhằm đánh giá năng lực cảm thụ, bình luận, đánh giá,
so sánh, sáng tạo của học sinh. Cần có thêm những văn bản tác phẩm ngoài SGK
để học sinh vận dụng năng lực đọc hiểu , tích hợp các kiến thức, kĩ năng đã được
học phát huy tố chất của mình.
2. Về phía học sinh.
2.1. Yêu cầu cơ bản.
- Thường xuyên đọc và tích lũy tài liệu theo hướng dẫn của giáo viên. Làm các
bài tập theo chuyên đề ôn luyện, học tập lẫn nhau cùng tiến bộ.
- Mở bài, kết bài phải tỏ ra đầu tư để viết hay, sáng tạo, đó là điểm khác biệt
giữa bài văn của học sinh giỏi và bài văn của học sinh trung bình.
- Thân bài phải có bố cục rõ ràng và hành văn sáng.
- Bài viết vừa sâu vừa rộng về kiến thức.
- Tỏ ra am hiểu lí luận, vận dụng mức độ vào tác phẩm văn học cần làm.
- Bài làm phải có sức viết dài, động viên từ ba tờ giấy thi (12 trang) trở lên. Chữ
đẹp hoặc dễ đọc, ưa nhìn, không cẩu thả, không được sai Tiếng Việt.
thuvienhoclieu.com
Trang 10
thuvienhoclieu.com
- Tham khảo những bài viết của các nhà phê bình, các bài văn đạt giải cao mấy
năm lại đây, những bài viết hay của T.S Chu Văn Sơn, T.S Phan Huy Dũng...và
nhiều người khác.
- Không thể áp dụng phương pháp máy móc. Phải chăng, phương pháp tốt nhất
là không cần phương pháp?
2.2. Yêu cầu về năng lực tiếp nhận văn bản.
- Năng lực tiếp nhận văn bản văn học là khả năng nắm bắt đúng thông tin và
giá trị của một văn bản văn học.
- Tức là trả lời các câu hỏi như:
+ Văn bản này nói về vấn đề gì?
+ Vấn đề đó có ý nghĩa như thế nào?
+ Nó được tác giả thể hiện bằng hình thức nghệ thuật nào độc đáo?...
- Năng lực tiếp nhận văn bản còn được đánh giá ở khả năng biết cách tiếp
nhận văn bản. Nghĩa là biết phân tích, thưởng thức và đánh giá cái hay, cái đẹp
của văn bản một cách khoa học, hợp lí, có sức thuyết phục.
- Muốn có được năng lực tiếp nhận văn bản, cần phải trang bị cả kiến thức, kĩ
năng văn học - văn hóa và phải luyện tập nhiều, thực hành nhiều.
a. Về hệ thống kiến thức cơ bản:
* Có kiến thức về tác phẩm văn học:
- Kiến thức về tác phẩm là toàn bộ các sáng tác văn học cụ thể mà một HS
đọc được trong và ngoài chương trình: những bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết,
bút kí, kịch bản văn học, văn nghị luận (nghị luận văn học hoặc chính trị xã
hội),...
- Kiến thức về tác phẩm là một bộ phận quan trọng nhất của hệ thống kiến
thức cơ bản về văn học. Vì nếu không nắm được tác phẩm thì coi như mọi kiến
thức về văn học đều ít có ý nghĩa.
+ Những nhận định về văn học sử hay bất kì một thuật ngữ, khái niệm lí luận
văn học nào muốn có sức thuyết phục cũng phải dựa vào những tác phẩm văn học
cụ thể, sinh động mà khái quát lên.
+ Mặt khác, cung cấp những kiến thức văn học sử hay lí luận văn học trong
nhà trường, cũng nhằm để giúp HS hiểu sâu hơn và tốt hơn những tác phẩm văn
học cụ thể.
- Đối với hệ thống kiến thức tác phẩm, cần rèn luyện để đạt được các yêu
cầu sau: nhiều, chọn lọc, hệ thống và chính xác.
+ Đọc nhiều thể hiện ở số lượng các văn bản văn học đọc được trong quá
trình học tập và rèn luyện. Để được coi là đọc nhiều, cần đọc mở rộng ra
ngoài chương trình và SGK.
thuvienhoclieu.com
Trang 11
thuvienhoclieu.com
+ Đọc có chọn lọc là nói đến chất lượng của các văn bản văn học đọc được.
Đọc nhiều mà không chọn lọc thì không bằng đọc ít hơn mà có chọn lọc. Đọc có
chọn lọc tức là đọc một quyển sách thật sự có giá trị. Đọc có chọn lọc gắn liền với
đọc kĩ, đọc có suy ngẫm, suy nghĩ sâu xa.
Nắm kiến thức tác phẩm một cách chọn lọc, trước hết cần nắm vững các tác
phẩm đã được đưa vào chương trình và SGK (kể cả đọc thêm). Sau đó mới tham
khảo mở rộng đến những tác phẩm khác ngoài chương trình. (Tránh tình trạng
không thuộc, không nhớ những tác phẩm đã học, lại dẫn ra những tác phẩm đọc
được ở ngoài chương trình, không tiêu biểu và thiếu tính chọn lọc.)
+ Đọc có hệ thống đòi hỏi phải biết sắp xếp các tác phẩm đọc được theo một
hệ thống nào đó. Có thể xếp theo lịch sử văn học, thể loại hoặc theo các đề tài
lớn.
Nghĩa là khi đọc một tác phẩm, cần nắm được bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh
ra đời, thể loại và đề tài của mỗi tác phẩm văn học.
Khi tìm hiểu một tác phẩm, cần liên hệ đến bối cảnh lịch sử ấy và so sánh
với các tác phẩm cùng thời, cũng như các tác phẩm viết cùng đề tài, cùng thể loại
ở các giai đoạn khác nhau để thấy vẻ đẹp của chúng.
Ví dụ, khi phân tích hay bình bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh trong
Nhật kí trong tù. Bài viết muốn hay, hấp dẫn và phong phú thì phải biết liên hệ,
so sánh với nhiều bài thơ cùng viết về trăng ở trong và ngoài nước.
Người ta có thể so sánh với hình ảnh trăng trong thơ Lí Bạch, Đỗ Phủ,
trăng trong ca dao, dân ca, trăng trong thơ Nguyễn Trãi, trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du,...
Người ta cũng so sánh với trăng trong một số thi phẩm cùng thời với bài
Ngắm trăng của Bác: trăng trong thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,...
Cũng có thể so sánh vầng trăng trong bài Ngắm trăng với các bài khác của
Nhật kí trong tù và trong những bài thơ Người viết khi ở chiến khu Việt Bắc,...
Tóm lại, từ chương trình “khung” của SGK, HS có thể đọc rộng ra (đọc
toàn bộ tác phẩm, đọc các tác phẩm khác của cùng tác giả, đọc các tác phẩm
của các tác giả khác cùng thời hoặc cùng đề tài đó,...).
* Có hiểu biết chính xác về tác phẩm:
Trước hết là nắm được nội dung tác phẩm: cốt truyện, tính cách nhân vật
chính, những tình tiết quan trọng, chi tiết độc đáo,... (tác phẩm tự sự), những câu
thơ hay, hình ảnh tinh tế,... (tác phẩm trữ tình - thơ).
-
+ Có khi cần chính xác đến cả dấu câu và cách ngắt nhịp đặc biệt. Những
dấu câu và ngắt nhịp đặc biệt ở nhiều tác phẩm cụ thể trong khi phân tích, bình
giảng cần khai thác hết cái hay, cái đẹp vốn có của tác phẩm văn chương.
thuvienhoclieu.com
Trang 12
thuvienhoclieu.com
+ Bài viết sẽ thiếu thuyết phục và ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng nếu
trích dẫn thơ văn sai, nhất là các tác phẩm đã học trong chương trình, những câu
thơ, lời văn nổi tiếng.
Như thế, người học phải nhớ nhiều, thuộc nhiều. Nên tích luỹ, ghi chép và
hệ thống hóa kiến thức tác phẩm theo cách ấy. Làm thế nào để khi bàn về
một vấn đề hay viết về một ý nào đó, hay phân tích một câu thơ nào đó, có
thể sử dụng dẫn chứng một cách linh họat ở những tác giả khác nhau để thấy
tuy cùng viết về một đề tài nhưng cách thể hiện rất đa dạng và phong phú (tuỳ
vào yêu cầu của vấn đề mà lựa chọn và huy động một dung lượng kiến thức cho
phù hợp).
Thứ hai, phải hiểu được, nắm được cái hay, cái đẹp, về nội dung và nghệ
thuật của những tác phẩm ấy.
-
+ Nhất là những tác phẩm đã được nghe giảng trên lớp, sau khi học xong,
phải đọng lại được những gì đáng nhớ ở tác phẩm ấy (những đoạn thơ, câu thơ
hay; những chi tiết, những hình tượng nhân vật đặc sắc,.. kèm theo đó là nhận
thức về giá trị nội dung và nghệ thuật cơ bản nhất của tác phẩm). Những kiến
thức này được cung cấp rất cụ thể và chi tiết qua các giờ đọc văn.
+ Ở những tác phẩm đọc thêm, tự đọc, các em cần tự suy nghĩ và xác định lấy
theo các yêu cầu trên.
b. Kiến thức văn học sử.
- Văn học sử nghiên cứu tiến trình phát triển của văn học, bao gồm quá trình
phát sinh và phát triển của các xu hướng, trào lưu, tác gia, tác phẩm,... dưới ảnh
hưởng của những điều kiện xã hội - lịch sử nhất định.
- Trong nhà trường phổ thông, kiến thức văn học sử thường được trình bày
thành những bài Khái quát văn học.
- Có kiến thức văn học sử vững chắc là có thể trả lời những câu hỏi khái quát
về một nền văn học, một giai đoạn văn học,... Chẳng hạn:.
+ Văn học Việt Nam có mấy bộ phận? Văn học viết có thể chia làm mấy
giai đoạn? Mỗi giai đoạn có những tác giả và tác phẩm tiêu biểu nào? Những chủ
đề lớn xuyên suốt nền văn học dân tộc là gì?
+ Nêu những nét lớn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của một nhà văn lớn
(Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh, Nam Cao, Nguyễn
Tuân, Xuân Diệu,...). Nội dung tư tưởng chính trong tác phẩm của nhà văn này là
gì?
+ Hoàn cảnh ra đời của một số tác phẩm lớn (Đại cáo bình Ngô, Truyện
Kiều) Những đặc điểm lớn về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó.
- Nắm vững văn học sử, HS sẽ tiếp nhận văn học một cách cơ bản, có hệ
thống, không phiến diện,... để từ đó có một cách nhìn nhận và đánh giá đúng các
thuvienhoclieu.com
Trang 13
thuvienhoclieu.com
tác giả và tác phẩm văn học. Văn học sử cũng giúp cảm nhận, phân tích, đọc hiểu văn bản văn học sâu hơn, đúng hơn.
+ Rõ ràng, khi phân tích một tác phẩm nào đó, cần xem xét không chỉ những
yếu tố trong văn bản mà còn phải căn cứ thêm nhiều yếu tố khác ngoài văn bản,
như cuộc đời nhà văn, bối cảnh lịch sử, xã hội, gia đình, bạn bè,... đã góp phần
hình thành tư tưởng nhà văn đó như thế nào, rồi hoàn cảnh sáng tác một tác phẩm
cụ thể,... Những kiến thức ấy đều do văn học sử cung cấp.
+ Ví dụ, phân tích bài thơ Ngắm trăng trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí
Minh:
Ở đây, ngoài việc phân tích cái hay, cái đẹp của văn bản, từ văn bản, trong
từng câu chữ, ý tứ của bài thơ, nếu chúng ta lại đặt bài thơ trong hoàn cảnh sáng
tác của toàn tập thơ, soi rọi nội dung và nghệ thuật bài thơ từ phong cách chung
của toàn bộ tập Nhật kí trong tù, rồi lại liên hệ với những sáng tác của các nhà thơ
khác ở cùng một giai đoạn, cùng viết về trăng,... chúng ta sẽ cảm nhận bài thơ sâu
sắc hơn, thấm thía hơn.
c. Kiến thức lí luận văn học.
- Lí luận văn học nghiên cứu bản chất, chức năng xã hội và chức năng
thẩm mĩ, cũng như những quy luật của sáng tác văn học, xây dựng phương
pháp luận nghiên cứu văn học và phương pháp phân tích tác phẩm văn học,...
lí luận văn học được thể hiện bằng hàng loạt thuật ngữ, khái niệm.
- Các thuật ngữ, khái niệm này có ở :
+ Bất kì bài đọc văn nào trên lớp,
+ Hoặc ở một số bài lí luận văn học giới thiệu, tổng kết về cách đọc các thể
loại như đọc truyện và tiểu thuyết, đọc thơ, đọc kịch, đọc văn nghị luận (lớp 11);
+ Vấn đề Các giá trị văn học và Tiếp nhận văn học, Phong cách văn học và
Quá trình văn học (lớp 12).
Chẳng hạn, những thuật ngữ như đề tài, chủ đề, hình tượng, tự sự, trữ tình,
anh hùng ca, điển hình, hư cấu, tiểu thuyết, lãng mạn, ước lệ, tượng trưng,...
- Trong quá trình tích luỹ kiến thức lí luận văn học, để vận dụng vào bài làm
được tốt, cần chú ý hai điểm sau đây:
+ Một là, bao giờ cũng đặt ra các câu hỏi xung quanh vấn đề và thuật ngữ
khái niệm lí luận văn học mà đang cần tìm hiểu.
Ví dụ, khi gặp các thuật ngữ chủ đề, đề tài hay nhân vật, hãy tự đặt ra và tìm
cách lí giải các câu hỏi như:
. Thế nào là đề tài? Thế nào là nhân vật trong tác phẩm văn học?
. Đề tài khác với chủ đề ở chỗ nào? Đề tài và chủ đề có ý nghĩa như thế nào
trong việc tìm hiểu tác phẩm văn học?
thuvienhoclieu.com
Trang 14
thuvienhoclieu.com
. Nhân vật trong tác phẩm văn học có những loại nào? Tại sao lại chia ra các
loại nhân vật như thế?
. Chia như thế để làm gì và có ý nghĩa gì trong việc phân tích, cảm nhận tác
phẩm văn học?
🡪Sâu sắc hơn nữa, có thể đặt ra các câu hỏi như:
. Nhân vật trong truyện cổ dân gian có những đặc điểm gì?
. Loại nhân vật ấy có gì khác so với những nhân vật trong các tác phẩm văn
học hiện đại?
. Tại sao loại nhân vật này miêu tả theo lối tả thực, nhân vật kia lại miêu tả
theo lối ước lệ, tượng trưng?,..
+ Hai là, để hình thành và củng cố các kiến thức lí luận được vững chắc, cần
gắn các kiến thức ấy với tác phẩm văn học cụ thể, liên hệ, đối chiếu để làm sáng
tỏ những hiểu biết của mình về lí luận văn học qua các hình tượng văn học cụ thể,
sinh động, tránh lí luận chung chung, khô khan, trừu tượng.
d. Kiến thức văn hóa tổng hợp.
- Để có năng lực tiếp nhận, còn cần trang bị rất nhiều kiến thức văn hóa phổ
thông cơ bản khác.
+ Những kiến thức phổ thông như lịch sử, địa lí, âm nhạc, hội họa, điện ảnh,
sân khấu,... và những tập quán văn hóa khác nhau ở những vùng miền khác nhau
có vai trò rất to lớn đối với việc tiếp nhận văn bản văn học.
+ Tất nhiên, những kiến thức này chỉ yêu cầu ở một mức độ vừa phải, đúng
với tâm lí lứa tuổi và trình độ của cấp học.
- Nhà văn lớn bao giờ cũng đồng thời là nhà văn hóa. Tác phẩm văn học lớn là
sự kết tinh của những giá trị văn hóa tổng hợp.
+ Trước những áng văn hay, những tác phẩm văn học lớn, người đọc, người
tiếp nhận, phân tích và bình giá tác phẩm văn học cũng phải nâng mình lên
“ngang tầm” hoặc ít ra cũng rèn luyện để có một vốn liếng “văn hóa tổng hợp”
khá phong phú thì mới có thể hiểu đúng, cảm nhận đúng để nhờ đó nói đúng, viết
hay về tác phẩm văn học.
+ Nhà thơ W. Whitman đã từng khẳng định: “Những tác phẩm lớn cần những
độc giả lớn”. Độc giả lớn ở đây chính là những độc giả có vốn văn hóa cao, có
nhiều hiểu biết.
- Để có vốn văn hóa tổng hợp, cần biết vận dụng các tri thức của nhiều môn
học khác như lịch sử, địa lí, mĩ thuật (nhạc, họa), kể cả kiến thức từ các môn khoa
học tự nhiên và đặc biệt là qua các phương tiện công nghệ thông tin, truyền thông
(ICT) như internet, truyền hình, báo chí, sách vở,...
thuvienhoclieu.com
Trang 15
thuvienhoclieu.com
- Ngoài ra, người cảm thụ tác phẩm cũng rất cần những hiểu biết về chính trị đời sống, những kinh nghiệm và sự từng trải cá nhân.
+ Trong thực tế rất nhiều HS không biết đèo Ngang thuộc tỉnh nào, nằm ở vị
trí nào, không biết các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Thu Bồn,
sông Đồng Nai, sông Hương, sông Đà... chảy qua những đâu, không có những
hiểu biết sơ giản về những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử nổi tiếng
của Việt Nam cũng như của thế giới, như thế khó lòng hiểu được tác phẩm.
+ Văn học là một môn nghệ thuật, nó có quan hệ đến nhiều nghệ thuật khác,
cho nên những hiểu biết về âm nhạc, hội họa, điện ảnh,... nhất là biết đến các danh
nhân và các kiệt tác nghệ thuật cũng hết sức cần thiết.
2.3. Kĩ năng tiếp nhận văn bản.
- Ngoài việc nắm vững kiến thức, cần rèn luyện để có cách thức tiếp nhận văn
bản văn học. Kĩ năng tiếp nhận văn học thể hiện ở khả năng biết cảm thụ, nhận
biết, chỉ ra và lí giải được cái hay, cái đẹp của văn bản văn học một cách chính
xác, độc đáo, giàu sức thuyết phục.
- Văn bản văn học là một loại văn bản đặc biệt. Nó phản ánh cuộc sống, con
người thông qua phương tiện nghệ thuật ngôn từ. Muốn hiểu được cái hay, cái
đẹp về nội dung của văn bản văn học trước hết người đọc phải thông qua ngôn
từ, vượt qua được bức tường ngôn ngữ và thấy được tác dụng của các hình thức
nghệ thuật được sử dụng trong văn bản.
- Như thế, muốn hiểu văn bản văn học, muốn mở cánh cửa bước vào thế giới
hình tượng của tác phẩm, phải biết cách; phải rèn luyện nhiều để có kĩ năng tiếp
nhận loại văn bản này.
* Một số lưu ý về kĩ năng và cách thức tiếp nhận văn bản văn học:
- Nguyên tắc hàng đầu của tiếp nhận văn bản văn học là không được thoát li
văn bản - không được suy diễn một cách tuỳ tiện, thiếu cơ sở - mà phải dựa vào
câu chữ và các biểu hiện hình thức của văn bản.
+ Cái hay cái đẹp của nội dung phải được phân tích, chỉ ra, thưởng thức và
đánh giá thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản.
+ Trong quá trình luyện tập phân tích, cảm thụ văn bản văn học, cần nắm
được các hình thức nghệ thuật mà nhà văn thường vận dụng để tạo nên hình tượng
văn học và thế giới nghệ thuật trong tác phẩm.
+ Các hình thức này không nhiều, nó giống như hệ thống chữ cái trong một
ngôn ngữ. Với tiếng Việt chỉ cần 24 chữ cái chúng ta có thể ghép lại thành vô số
các từ, ngữ, câu văn,... khác nhau. Nhà văn khi tạo nên tác phẩm của mình cũng
dựa trên một số yếu tố hình thức nghệ thuật nhất định.
thuvienhoclieu.com
Trang 16
thuvienhoclieu.com
- Một số yếu tố cơ bản mà bất kì nhà văn nào cũng phải sử dụng. Nghĩa là khi
đọc - hiểu, phân tích, cảm nhận văn bản văn học phải dựa vào các yếu tố này để
chỉ ra thông điệp nội dung và ý nghĩa của văn bản đó. Các yếu tố đó là:
+ Ngữ âm: vần điệu, thanh điệu, nhịp điệu.
+ Từ ngữ, hình ảnh, các phép tu từ.
+ Không gian và thời gian.
+ Nhân vật: nhân vật trong tác phẩm văn xuôi và trong tác phẩm trữ tình.
+ Cốt truyện: tình huống truyện, các biến cố và cách tổ chức biến cố.
+ Chi tiết.
+ Đặc điểm lời văn.
+ Bút pháp miêu tả: tả người và tả cảnh, tả ngoại hình và tả nội tâm,...
Mỗi văn bản văn học được viết theo một thể loại nào đó và thể loại ấy sẽ
"buộc" tác giả lựa chọn một số yếu tố hình thức nghệ thuật phù hợp nêu trên để
thể hiện nội dung.
- Quy trình phân tích, cảm thụ (tiếp nhận) một văn bản văn học rất đạ dạng và
phong phú, tuy nhiên trong nhà trường phổ thông, trước hết, HS cần rèn luyện
theo quy trình ba bước mà nhiều người đã tổng kết (thường gọi là quy trình tổng phân - hợp):
+ Bước...
TÀI LIỆU BỒI
DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI
Môn Văn 9
LÍ LUẬN
VĂN HỌC THEO
CHỦ ĐỀ
thuvienhoclieu.com
Trang 1
thuvienhoclieu.com
MỤC LỤC
PHƯƠNG PHÁP ÔN THI HSG HIỆU QUẢ
CHUYÊN ĐỀ 1: TÁC PHẨM VĂN HỌC
1.Tác phẩ m văn ho ̣c là gì?
2. Nguồn gốc của tác phẩm văn học
2.1. Những nhận định về nguồn gốc của tác phẩm văn học
2.3 Những nhận định về nguồn gốc
3. Những đặc điểm của tác phẩm
3.1. Tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể.
3.2.Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học.
3.3.Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức tác phẩm văn học.
3.4.Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học
3.5. Những nhận định về hình thức và nội dung
CHUYÊN ĐỀ 2: CÁC CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC
1. Nhận định về các chức năng của văn học
2. Chức năng nhận thức.
3. Chức năng giáo dục.
4. Chức năng thẩm mĩ …
5. Mối quan hệ giữa các chức năng văn học.
CHUYÊN ĐỀ 3: NỘI DUNG CỦA VĂN HỌC
1. Những nhận định về nội dung của văn học
2.Tác phẩm văn học phản ánh những gì?
3.Hình tượng văn học
CHUYÊN ĐỀ 4: TÁC PHẨM TRUYỆN
1.Nhận định về tác phẫm truyện ( Nhân vật, chi tiết, tình huống)
2.Nhân vật
2.1 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm.
2.2 Các loại nhân vật văn học.
2.3 Một số biện pháp xây dựng nhân vật.
3. Chi tiết trong tác phẩm truyện
3.1.Chi tiết trong tác phẩm là gì?
thuvienhoclieu.com
Trang 2
thuvienhoclieu.com
3.2 Đặc điểm và vai trò của chi tiết trong tác phẩm truyện
3.3 Ý nghĩa của chi tiết trong tác phẩm
3.4Cách cảm nhận chi tiết trong tác phẩm truyện.
4. Tình huống truyện
4.1. Tình huống truyện là gì?
4.2. Vai trò của tình huống truyện
4.3 Phân loại tình huống truyện
4.4 Cách xác định tình huống truyện.
CHUYÊN ĐỀ 5: THƠ
1. Những nhận định về thơ.
2. Thơ là gì?
3. Những đặc trưng ngôn ngữ thơ
2.1. Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính
2.2. Ngôn ngữ thơ có tính hàm súc
2.3. Ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm
2.4. Tính đa nghĩa của từ cũng tạo nên vẻ đẹp cho ngôn ngữ thơ ca:
2.5. Ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ có nhịp điệu, không có nhịp điệu
thì không thành thơ.
2.6. Ngôn ngữ thơ ca không đối lập với ngôn ngữ toàn dân. Nó tiếp
thu tinh hoa của ngôn ngừ thường nhật không ngừng nâng cao, làm giàu thêm
ngôn ngữ toàn dân.
2.7.Tham khảo bài văn hay, nhận định về ngôn ngữ thơ.
3.Nội dung của thơ
3.1 Thơ là tiếng nói của tình cảm
3.2. Những nhận định về nội dung tình cảm trong thơ
3.3 Thơ phản ánh cuộc sống
3.4.Nhận định về nội dung thơ phản ánh cuộc sống
4. Sáng tạo trong thơ.
5. Để sáng tạo và lưu giữ một bài thơ hay.
thuvienhoclieu.com
Trang 3
thuvienhoclieu.com
CHUYÊN ĐỀ 7: ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH THÀNH PHỐ,
CÓ ĐÁP ÁN CHI TIẾT
STT
NỘI DUNG ĐỀ THI HỌC SINH GỎI
1
Làm thơ là cân một phần nghìn 0milligram quặng chữ” (Mai-a-cop-ki).
Anh chị hiểu ý kiến trên như thế nào. Chứng minh qua một số bài thơ anh
chị đã học hoặc đọc thêm.
2
“Thơ hiện đại không chỉ đem lại những cái mới về nội dung tư tưởng,
cảm xúc mà còn đổi mới về phương thức biểu cảm, về sáng tạo hình ảnh,
cấu trúc câu thơ, ngôn ngữ thơ.”
(Ngữ văn 9, tập 2, trang 200, NXB GD, 2004)
Anh (chị) hãy làm sáng rõ nhận định trên qua tác phẩm Ánh trăng của
Nguyễn Duy.
3
.3 Trong văn bản “Tiếng nói văn nghệ”, Nguyễn Đình thi có viết: “Nghệ
thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa
trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy”.
Qua văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, em hãy
làm sáng tỏ ý kiến trên./.
4
4 Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 ngoài hình ảnh người
chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc còn mang nhịp thở của con
người lao động mới.
Bằng những hiểu biết về văn học giai đoạn này, em hãy làm sáng tỏ nhận
định trên.
5
5 Nhà văn Nguyễn Dữ đã kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương
bằng chi tiết Vũ Nương hiện về gặp chồng rồi sau đó biến mất.
Có ý kiến cho rằng: giá như nhà văn để Vũ Nương trở về trần gian sống
hạnh phúc cùng chồng con thì kết thúc của truyện sẽ có ý nghĩa hơn. Có
người lại nhận xét: cách kết thúc của tác giả như vậy là hợp lí.
Suy nghĩ của em về hai ý kiến trên..
6
6 “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng
riêng...” (Nguyễn Đình Thi, Tiếng nói của văn nghệ)
Em hiểu như thế nào về ý kiến trên? Hãy nói về “ánh sáng riêng”
mà truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long đã “rọi vào” tâm
thuvienhoclieu.com
Trang 4
thuvienhoclieu.com
hồn em.
7
7 Có nhận định rằng: "Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu
hiện một triết lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người
đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng
của cuộc đời. Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha
mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất".
Qua bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt. Em hãy làm sáng rõ nhận định
trên.
8
Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, ngoài hình ảnh người
chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc còn mang nhịp thở của con
người lao động mới.
Bằng những hiểu biết về văn học giai đoạn này, em hãy làm sáng tỏ nhận
định trên
9
Vẻ đẹp trong lối sống, tâm hồn của nhân vật anh thanh niên trong “Lặng
lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long và nhân vật Phương Định trong
“Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê.
10
“Niềm vui của nhà văn chân chính là được làm người dẫn đường đến xứ
sở của cái đẹp”.
Hãy khám phá “xứ sở của cái đẹp” qua văn bản Đoàn thuyền đánh cá
(Huy Cận, Ngữ văn 9, tập 1.
11
Trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó”
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích giá trị tư tưởng
nhân đạo trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của
Nguyễn Dữ để làm sáng tỏ ý kiến trên.
12
“Dù viết về cái gì, văn chương chân chính cũng hướng về con người.
Viết về cái xấu để cảnh tỉnh con người, để báo động giúp con người sống
với bản lĩnh tốt đẹp của mình. Viết về cái tốt để con người tự tin ở mình
và đó chính là hành trang cần có ở con người trong cuộc hành trình tới
tương lai.”
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua
thuvienhoclieu.com
Trang 5
thuvienhoclieu.com
bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.
13
“Tinh thần nhân đạo trong văn học trước hết là tình yêu thương con
người”
(Đặng Thai Mai – “Trên đường học tập và nghiên cứu” - NXB Văn học
1969)
Chứng minh ý kiến trên qua tác phẩm “Chuyện người con gái Nam
Xương” của Nguyễn Dữ. (SGK, Ngữ văn 9, tập I)
14
Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, ngoài hình ảnh người
chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc còn mang nhịp thở của con người
lao động mới.
Bằng những tác phẩm thơ văn đã học, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
15
"Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở
thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn
nói một điều gì mới mẻ."
(Nguyễn Đình Thi, Tiếng nói của văn nghệ)
16
Một trong những phương diện thể hiện tài năng của người nghệ sĩ ngôn
từ là am hiểu và miêu tả thành công thế giới nội tâm của nhân vật trong
tác phẩm văn học. Bằng những kiến thức đã học về đoạn trích: “Kiều ở
lầu Ngưng Bích” (Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) em hãy làm sáng
tỏ điều đó?
17
Có ý kiến cho rằng: “Cảnh vật và tâm trạng trong thơ Nguyễn Du bao giờ
cũng vận động chứ không tĩnh tại”.
Qua hai trích đoạn “Cảnh ngày xuân” và “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du), hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
18
Trong văn bản “Tiếng nói văn nghệ”, Nguyễn Đình thi có viết: “Nghệ
thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa
trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy”.
Qua văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, em hãy làm sáng
tỏ ý kiến trên
19
Cùng viết về tình cha con nhưng hai tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao và
Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng lại có những khám phá sáng tạo
riêng, độc đáo.
thuvienhoclieu.com
Trang 6
thuvienhoclieu.com
Bằng cảm nhận về tình cha con trong hai tác phẩm, em hãy làm sáng tỏ
nhận định trên.
20
Nhà thơ Pháp Andre Chanien từng nói: "Nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ,
trái tim mới làm nên thi sĩ."
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua Mùa xuân nho nhỏ
của nhà thơ Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục, 2004.
21
Vẻ đẹp trong lối sống, tâm hồn của nhân vật anh thanh niên trong "Lặng
lẽ Sa Pa" của Nguyễn Thành Long và nhân vật Phương Định trong
"Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê.
22
"...Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây
truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng."
(Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9, tập 2)
Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
23
Một tác phẩm văn học có giá trị vừa là chứng tích của một thời,
vừa là hiện thân chân lý giản dị của mọi thời.
Bằng những hiểu biết về tác phẩm "Chuyện người con gái Nam
Xương " của Nguyễn Dữ, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
24
Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng,
không bao giờ nhòa đi, ánh sáng ấy bấy giờ biến thành của ta, và chiếu
tỏa lên
mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt
ta nhìn, óc ta nghĩ.
(Trích Tiếng nói văn nghệ - Nguyễn Đình Thi)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy viết về thứ “ánh sáng riêng” của
một vài tác phẩm trong chương trình ngữ văn lớp 9 tập 1 đã “chiếu tỏa”
“làm
cho thay đổi hẳn” cách nhìn, cách nghĩ của em về con người và cuộc
sống.
25
Đại văn hào Nga M.Gorki (1868-1936) viết: "Mỗi tác phẩm văn học đều
là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên tôi tách khỏi dần con thú để lên tới
thuvienhoclieu.com
Trang 7
thuvienhoclieu.com
gần con người..."
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua hai tác phẩm "Đoàn thuyền đánh
cá" của Huy Cận và "Ánh trăng" của Nguyễn Duy để làm rõ phần nào
nhận định trên?
.
thuvienhoclieu.com
Trang 8
thuvienhoclieu.com
PHƯƠNG PHÁP ÔN THI HSG HIỆU QUẢ
1. Lựa chọn học sinh.
Đây là bước quan trọng trước khi bắt đầu ôn luyện bồi dưỡng. Bởi vì, có
lựa chọn kĩ lưỡng, đúng khả năng, phát hiện tố chất văn chương của các em thì
mới hiệu quả trong công tác bồi dưỡng. Trong khi theo xu thế thời đại, các em
ngại học văn, người dạy đội tuyển còn phải vừa dạy vừa “dỗ” rất vất vả. Nhưng
giáo viên hãy coi đó là thử thách, vượt qua được sẽ đến thành công.
Bước lựa chọn có thể tiến hành theo cách: Trước hết, giáo viên đứng
đội tuyển tìm hiểu lực học môn Ngữ văn THCS của học sinh; đọc kĩ các bài thi
kiểm tra thường xuyên trên lớp, các bài thi khảo sát của học sinh. Sau đó lựa chọn
những bài đạt điểm cao, trình bày rõ ràng, có cảm xúc. Sau đó, giáo viên tiếp tục
ra đề kiểm tra riêng nhóm học sinh đã lựa chọn vào đội tuyển. Các bài kiểm tra
phải hướng chọn lựa năng lực, kĩ năng học sinh như: Biết nhận diện phân tích
dạng đề, kiểu bài; Kĩ năng lập dàn ý, tạo lập văn bản; Kĩ năng trình bày, diễn đạt
các luận điểm; Kĩ năng phân tích cảm thụ từng chi tiết trong tác phẩm; Kĩ năng
liên hệ so sánh, bình luận, đánh giá…
VD: Một số đề kiểm tra năng lực, kĩ năng học sinh qua tác phẩm “Thuật hoài”
của Phạm Ngũ Lão (SGK Ngữ văn 10):
Câu 1. Chữ “thẹn” trong bài thơ “Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão. Bài tập này
nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ chi tiết trong tác phẩm văn học của học sinh. Học
sinh phải lí giải được: Tại sao tác giả lại “thẹn”? Các ý nghĩa của chữ “thẹn”.
Câu 2. Vẻ đẹp người anh hùng trong bài thơ “Thuật hoài” - Phạm Ngũ Lão. Bài
tập này nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ tác phẩm, các kĩ năng phân tích, so sánh,
đánh giá, bình luận của học sinh.
Trong quá trình chấm bài, giáo viên chỉ ra những mặt mạnh và yếu qua bài
làm của từng học sinh nhằm tạo sự đồng đều trong cách dạy học và tinh thần học
tập lẫn nhau của các em.
2. Bồi dưỡng học sinh giỏi.
* Xây dựng kế hoạch dạy và học:
Xây dựng kế hoạch ôn luyện bồi dưỡng theo các chuyên đề phù hợp với
thời gian dự kiến: Chuyên đề rèn luyện kĩ năng làm văn; Chuyên đề lí luận văn
học; Chuyên đề nghị luận xã hội; Chuyên đề nghị luận văn học… Tích cực soạn
giáo án theo các chuyên đề thật chi tiết, mở rộng nâng cao nhiều kiến thức, hệ
thống bài tập phải thật sự phong phú đa dạng. Chấm, chữa bài học sinh cẩn thận
và chu đáo sau mỗi chuyên đề giảng dạy. Tạo không khí cởi mở, hứng thú cố gắng
khẳng định mình trong các bài viết tiếp theo của học sinh. Cung cấp các tài liệu
đọc tham khảo cho học sinh hoặc gợi ý tư liệu cho học sinh tìm kiếm và tự tích
lũy.
thuvienhoclieu.com
Trang 9
thuvienhoclieu.com
* Tiến hành bồi dưỡng theo chuyên đề: Các chuyên đề bồi dưỡng học
sinh giỏi khá công phu. Để đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần phối hợp nhịp nhàng,
linh hoạt các khâu trong quá trình ôn luyện và học tập trên lớp. Trong dung lượng
bài viết này, tôi xin trao đổi một vài kinh nghiệm trong việc ra đề và rèn luyện kĩ
năng làm văn của học sinh lớp 10.
* Định hướng ra đề thi:
Việc ra đề là khâu quan trọng đầu tiên của quá trình phát hiện, đánh giá, lựa
chọn học sinh giỏi. Bởi vì, đề đúng và hay sẽ kích thích hứng thú sáng tạo trong
làm bài của học sinh, tránh đi những lối viết sáo mòn, ghi nhớ máy móc kiến thức.
Từ đó, giáo viên có thể đánh giá khách quan, công bằng, chính xác năng lực học
sinh.
Đề văn hay trước hết phải là một đề văn đúng: Đề văn thể hiện ở lập trường tư
tưởng và quan điểm thẩm mĩ đúng đắn. Đồng thời, tính đúng đắn còn thể hiện ở
việc trích dẫn đúng câu chữ và đúng quy cách; đúng phạm vi kiến thức, đúng mức
độ, kiểu bài với những yêu cầu sáng sủa rõ ràng. Đề văn hay là đề không chỉ đúng
mà còn phải đủ một số điều kiện như: Đề văn phải “vừa lạ vừa quen”; đề phải có
chất văn, phải gây được cảm hứng; đề phải phân hóa được đối tượng.Với những
điều kiện cần và đủ như trên của một đề văn hay, cùng với xu hướng đổi mới của
Bộ giáo dục dạy học theo hướng đánh giá năng lực của học sinh, tôi ra đề theo
hướng mở: Thứ nhất, tăng cường các đề thi tích hợp gắn liền với thực tiễn đời
sống, đặc biệt là đề nghị luận xã hội. Có thể ra đề với những vấn đề gần gũi với
học sinh như tư tưởng đạo đức lối sống, các vấn đề xã hội mang tính thiết yếu, cập
nhật như đọc sách, môi trường, bạo lực học đường… Thứ hai, đặc biệt với các đề
nghị luận văn học, cần ra đề nhằm đánh giá năng lực cảm thụ, bình luận, đánh giá,
so sánh, sáng tạo của học sinh. Cần có thêm những văn bản tác phẩm ngoài SGK
để học sinh vận dụng năng lực đọc hiểu , tích hợp các kiến thức, kĩ năng đã được
học phát huy tố chất của mình.
2. Về phía học sinh.
2.1. Yêu cầu cơ bản.
- Thường xuyên đọc và tích lũy tài liệu theo hướng dẫn của giáo viên. Làm các
bài tập theo chuyên đề ôn luyện, học tập lẫn nhau cùng tiến bộ.
- Mở bài, kết bài phải tỏ ra đầu tư để viết hay, sáng tạo, đó là điểm khác biệt
giữa bài văn của học sinh giỏi và bài văn của học sinh trung bình.
- Thân bài phải có bố cục rõ ràng và hành văn sáng.
- Bài viết vừa sâu vừa rộng về kiến thức.
- Tỏ ra am hiểu lí luận, vận dụng mức độ vào tác phẩm văn học cần làm.
- Bài làm phải có sức viết dài, động viên từ ba tờ giấy thi (12 trang) trở lên. Chữ
đẹp hoặc dễ đọc, ưa nhìn, không cẩu thả, không được sai Tiếng Việt.
thuvienhoclieu.com
Trang 10
thuvienhoclieu.com
- Tham khảo những bài viết của các nhà phê bình, các bài văn đạt giải cao mấy
năm lại đây, những bài viết hay của T.S Chu Văn Sơn, T.S Phan Huy Dũng...và
nhiều người khác.
- Không thể áp dụng phương pháp máy móc. Phải chăng, phương pháp tốt nhất
là không cần phương pháp?
2.2. Yêu cầu về năng lực tiếp nhận văn bản.
- Năng lực tiếp nhận văn bản văn học là khả năng nắm bắt đúng thông tin và
giá trị của một văn bản văn học.
- Tức là trả lời các câu hỏi như:
+ Văn bản này nói về vấn đề gì?
+ Vấn đề đó có ý nghĩa như thế nào?
+ Nó được tác giả thể hiện bằng hình thức nghệ thuật nào độc đáo?...
- Năng lực tiếp nhận văn bản còn được đánh giá ở khả năng biết cách tiếp
nhận văn bản. Nghĩa là biết phân tích, thưởng thức và đánh giá cái hay, cái đẹp
của văn bản một cách khoa học, hợp lí, có sức thuyết phục.
- Muốn có được năng lực tiếp nhận văn bản, cần phải trang bị cả kiến thức, kĩ
năng văn học - văn hóa và phải luyện tập nhiều, thực hành nhiều.
a. Về hệ thống kiến thức cơ bản:
* Có kiến thức về tác phẩm văn học:
- Kiến thức về tác phẩm là toàn bộ các sáng tác văn học cụ thể mà một HS
đọc được trong và ngoài chương trình: những bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết,
bút kí, kịch bản văn học, văn nghị luận (nghị luận văn học hoặc chính trị xã
hội),...
- Kiến thức về tác phẩm là một bộ phận quan trọng nhất của hệ thống kiến
thức cơ bản về văn học. Vì nếu không nắm được tác phẩm thì coi như mọi kiến
thức về văn học đều ít có ý nghĩa.
+ Những nhận định về văn học sử hay bất kì một thuật ngữ, khái niệm lí luận
văn học nào muốn có sức thuyết phục cũng phải dựa vào những tác phẩm văn học
cụ thể, sinh động mà khái quát lên.
+ Mặt khác, cung cấp những kiến thức văn học sử hay lí luận văn học trong
nhà trường, cũng nhằm để giúp HS hiểu sâu hơn và tốt hơn những tác phẩm văn
học cụ thể.
- Đối với hệ thống kiến thức tác phẩm, cần rèn luyện để đạt được các yêu
cầu sau: nhiều, chọn lọc, hệ thống và chính xác.
+ Đọc nhiều thể hiện ở số lượng các văn bản văn học đọc được trong quá
trình học tập và rèn luyện. Để được coi là đọc nhiều, cần đọc mở rộng ra
ngoài chương trình và SGK.
thuvienhoclieu.com
Trang 11
thuvienhoclieu.com
+ Đọc có chọn lọc là nói đến chất lượng của các văn bản văn học đọc được.
Đọc nhiều mà không chọn lọc thì không bằng đọc ít hơn mà có chọn lọc. Đọc có
chọn lọc tức là đọc một quyển sách thật sự có giá trị. Đọc có chọn lọc gắn liền với
đọc kĩ, đọc có suy ngẫm, suy nghĩ sâu xa.
Nắm kiến thức tác phẩm một cách chọn lọc, trước hết cần nắm vững các tác
phẩm đã được đưa vào chương trình và SGK (kể cả đọc thêm). Sau đó mới tham
khảo mở rộng đến những tác phẩm khác ngoài chương trình. (Tránh tình trạng
không thuộc, không nhớ những tác phẩm đã học, lại dẫn ra những tác phẩm đọc
được ở ngoài chương trình, không tiêu biểu và thiếu tính chọn lọc.)
+ Đọc có hệ thống đòi hỏi phải biết sắp xếp các tác phẩm đọc được theo một
hệ thống nào đó. Có thể xếp theo lịch sử văn học, thể loại hoặc theo các đề tài
lớn.
Nghĩa là khi đọc một tác phẩm, cần nắm được bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh
ra đời, thể loại và đề tài của mỗi tác phẩm văn học.
Khi tìm hiểu một tác phẩm, cần liên hệ đến bối cảnh lịch sử ấy và so sánh
với các tác phẩm cùng thời, cũng như các tác phẩm viết cùng đề tài, cùng thể loại
ở các giai đoạn khác nhau để thấy vẻ đẹp của chúng.
Ví dụ, khi phân tích hay bình bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh trong
Nhật kí trong tù. Bài viết muốn hay, hấp dẫn và phong phú thì phải biết liên hệ,
so sánh với nhiều bài thơ cùng viết về trăng ở trong và ngoài nước.
Người ta có thể so sánh với hình ảnh trăng trong thơ Lí Bạch, Đỗ Phủ,
trăng trong ca dao, dân ca, trăng trong thơ Nguyễn Trãi, trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du,...
Người ta cũng so sánh với trăng trong một số thi phẩm cùng thời với bài
Ngắm trăng của Bác: trăng trong thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,...
Cũng có thể so sánh vầng trăng trong bài Ngắm trăng với các bài khác của
Nhật kí trong tù và trong những bài thơ Người viết khi ở chiến khu Việt Bắc,...
Tóm lại, từ chương trình “khung” của SGK, HS có thể đọc rộng ra (đọc
toàn bộ tác phẩm, đọc các tác phẩm khác của cùng tác giả, đọc các tác phẩm
của các tác giả khác cùng thời hoặc cùng đề tài đó,...).
* Có hiểu biết chính xác về tác phẩm:
Trước hết là nắm được nội dung tác phẩm: cốt truyện, tính cách nhân vật
chính, những tình tiết quan trọng, chi tiết độc đáo,... (tác phẩm tự sự), những câu
thơ hay, hình ảnh tinh tế,... (tác phẩm trữ tình - thơ).
-
+ Có khi cần chính xác đến cả dấu câu và cách ngắt nhịp đặc biệt. Những
dấu câu và ngắt nhịp đặc biệt ở nhiều tác phẩm cụ thể trong khi phân tích, bình
giảng cần khai thác hết cái hay, cái đẹp vốn có của tác phẩm văn chương.
thuvienhoclieu.com
Trang 12
thuvienhoclieu.com
+ Bài viết sẽ thiếu thuyết phục và ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng nếu
trích dẫn thơ văn sai, nhất là các tác phẩm đã học trong chương trình, những câu
thơ, lời văn nổi tiếng.
Như thế, người học phải nhớ nhiều, thuộc nhiều. Nên tích luỹ, ghi chép và
hệ thống hóa kiến thức tác phẩm theo cách ấy. Làm thế nào để khi bàn về
một vấn đề hay viết về một ý nào đó, hay phân tích một câu thơ nào đó, có
thể sử dụng dẫn chứng một cách linh họat ở những tác giả khác nhau để thấy
tuy cùng viết về một đề tài nhưng cách thể hiện rất đa dạng và phong phú (tuỳ
vào yêu cầu của vấn đề mà lựa chọn và huy động một dung lượng kiến thức cho
phù hợp).
Thứ hai, phải hiểu được, nắm được cái hay, cái đẹp, về nội dung và nghệ
thuật của những tác phẩm ấy.
-
+ Nhất là những tác phẩm đã được nghe giảng trên lớp, sau khi học xong,
phải đọng lại được những gì đáng nhớ ở tác phẩm ấy (những đoạn thơ, câu thơ
hay; những chi tiết, những hình tượng nhân vật đặc sắc,.. kèm theo đó là nhận
thức về giá trị nội dung và nghệ thuật cơ bản nhất của tác phẩm). Những kiến
thức này được cung cấp rất cụ thể và chi tiết qua các giờ đọc văn.
+ Ở những tác phẩm đọc thêm, tự đọc, các em cần tự suy nghĩ và xác định lấy
theo các yêu cầu trên.
b. Kiến thức văn học sử.
- Văn học sử nghiên cứu tiến trình phát triển của văn học, bao gồm quá trình
phát sinh và phát triển của các xu hướng, trào lưu, tác gia, tác phẩm,... dưới ảnh
hưởng của những điều kiện xã hội - lịch sử nhất định.
- Trong nhà trường phổ thông, kiến thức văn học sử thường được trình bày
thành những bài Khái quát văn học.
- Có kiến thức văn học sử vững chắc là có thể trả lời những câu hỏi khái quát
về một nền văn học, một giai đoạn văn học,... Chẳng hạn:.
+ Văn học Việt Nam có mấy bộ phận? Văn học viết có thể chia làm mấy
giai đoạn? Mỗi giai đoạn có những tác giả và tác phẩm tiêu biểu nào? Những chủ
đề lớn xuyên suốt nền văn học dân tộc là gì?
+ Nêu những nét lớn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của một nhà văn lớn
(Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh, Nam Cao, Nguyễn
Tuân, Xuân Diệu,...). Nội dung tư tưởng chính trong tác phẩm của nhà văn này là
gì?
+ Hoàn cảnh ra đời của một số tác phẩm lớn (Đại cáo bình Ngô, Truyện
Kiều) Những đặc điểm lớn về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó.
- Nắm vững văn học sử, HS sẽ tiếp nhận văn học một cách cơ bản, có hệ
thống, không phiến diện,... để từ đó có một cách nhìn nhận và đánh giá đúng các
thuvienhoclieu.com
Trang 13
thuvienhoclieu.com
tác giả và tác phẩm văn học. Văn học sử cũng giúp cảm nhận, phân tích, đọc hiểu văn bản văn học sâu hơn, đúng hơn.
+ Rõ ràng, khi phân tích một tác phẩm nào đó, cần xem xét không chỉ những
yếu tố trong văn bản mà còn phải căn cứ thêm nhiều yếu tố khác ngoài văn bản,
như cuộc đời nhà văn, bối cảnh lịch sử, xã hội, gia đình, bạn bè,... đã góp phần
hình thành tư tưởng nhà văn đó như thế nào, rồi hoàn cảnh sáng tác một tác phẩm
cụ thể,... Những kiến thức ấy đều do văn học sử cung cấp.
+ Ví dụ, phân tích bài thơ Ngắm trăng trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí
Minh:
Ở đây, ngoài việc phân tích cái hay, cái đẹp của văn bản, từ văn bản, trong
từng câu chữ, ý tứ của bài thơ, nếu chúng ta lại đặt bài thơ trong hoàn cảnh sáng
tác của toàn tập thơ, soi rọi nội dung và nghệ thuật bài thơ từ phong cách chung
của toàn bộ tập Nhật kí trong tù, rồi lại liên hệ với những sáng tác của các nhà thơ
khác ở cùng một giai đoạn, cùng viết về trăng,... chúng ta sẽ cảm nhận bài thơ sâu
sắc hơn, thấm thía hơn.
c. Kiến thức lí luận văn học.
- Lí luận văn học nghiên cứu bản chất, chức năng xã hội và chức năng
thẩm mĩ, cũng như những quy luật của sáng tác văn học, xây dựng phương
pháp luận nghiên cứu văn học và phương pháp phân tích tác phẩm văn học,...
lí luận văn học được thể hiện bằng hàng loạt thuật ngữ, khái niệm.
- Các thuật ngữ, khái niệm này có ở :
+ Bất kì bài đọc văn nào trên lớp,
+ Hoặc ở một số bài lí luận văn học giới thiệu, tổng kết về cách đọc các thể
loại như đọc truyện và tiểu thuyết, đọc thơ, đọc kịch, đọc văn nghị luận (lớp 11);
+ Vấn đề Các giá trị văn học và Tiếp nhận văn học, Phong cách văn học và
Quá trình văn học (lớp 12).
Chẳng hạn, những thuật ngữ như đề tài, chủ đề, hình tượng, tự sự, trữ tình,
anh hùng ca, điển hình, hư cấu, tiểu thuyết, lãng mạn, ước lệ, tượng trưng,...
- Trong quá trình tích luỹ kiến thức lí luận văn học, để vận dụng vào bài làm
được tốt, cần chú ý hai điểm sau đây:
+ Một là, bao giờ cũng đặt ra các câu hỏi xung quanh vấn đề và thuật ngữ
khái niệm lí luận văn học mà đang cần tìm hiểu.
Ví dụ, khi gặp các thuật ngữ chủ đề, đề tài hay nhân vật, hãy tự đặt ra và tìm
cách lí giải các câu hỏi như:
. Thế nào là đề tài? Thế nào là nhân vật trong tác phẩm văn học?
. Đề tài khác với chủ đề ở chỗ nào? Đề tài và chủ đề có ý nghĩa như thế nào
trong việc tìm hiểu tác phẩm văn học?
thuvienhoclieu.com
Trang 14
thuvienhoclieu.com
. Nhân vật trong tác phẩm văn học có những loại nào? Tại sao lại chia ra các
loại nhân vật như thế?
. Chia như thế để làm gì và có ý nghĩa gì trong việc phân tích, cảm nhận tác
phẩm văn học?
🡪Sâu sắc hơn nữa, có thể đặt ra các câu hỏi như:
. Nhân vật trong truyện cổ dân gian có những đặc điểm gì?
. Loại nhân vật ấy có gì khác so với những nhân vật trong các tác phẩm văn
học hiện đại?
. Tại sao loại nhân vật này miêu tả theo lối tả thực, nhân vật kia lại miêu tả
theo lối ước lệ, tượng trưng?,..
+ Hai là, để hình thành và củng cố các kiến thức lí luận được vững chắc, cần
gắn các kiến thức ấy với tác phẩm văn học cụ thể, liên hệ, đối chiếu để làm sáng
tỏ những hiểu biết của mình về lí luận văn học qua các hình tượng văn học cụ thể,
sinh động, tránh lí luận chung chung, khô khan, trừu tượng.
d. Kiến thức văn hóa tổng hợp.
- Để có năng lực tiếp nhận, còn cần trang bị rất nhiều kiến thức văn hóa phổ
thông cơ bản khác.
+ Những kiến thức phổ thông như lịch sử, địa lí, âm nhạc, hội họa, điện ảnh,
sân khấu,... và những tập quán văn hóa khác nhau ở những vùng miền khác nhau
có vai trò rất to lớn đối với việc tiếp nhận văn bản văn học.
+ Tất nhiên, những kiến thức này chỉ yêu cầu ở một mức độ vừa phải, đúng
với tâm lí lứa tuổi và trình độ của cấp học.
- Nhà văn lớn bao giờ cũng đồng thời là nhà văn hóa. Tác phẩm văn học lớn là
sự kết tinh của những giá trị văn hóa tổng hợp.
+ Trước những áng văn hay, những tác phẩm văn học lớn, người đọc, người
tiếp nhận, phân tích và bình giá tác phẩm văn học cũng phải nâng mình lên
“ngang tầm” hoặc ít ra cũng rèn luyện để có một vốn liếng “văn hóa tổng hợp”
khá phong phú thì mới có thể hiểu đúng, cảm nhận đúng để nhờ đó nói đúng, viết
hay về tác phẩm văn học.
+ Nhà thơ W. Whitman đã từng khẳng định: “Những tác phẩm lớn cần những
độc giả lớn”. Độc giả lớn ở đây chính là những độc giả có vốn văn hóa cao, có
nhiều hiểu biết.
- Để có vốn văn hóa tổng hợp, cần biết vận dụng các tri thức của nhiều môn
học khác như lịch sử, địa lí, mĩ thuật (nhạc, họa), kể cả kiến thức từ các môn khoa
học tự nhiên và đặc biệt là qua các phương tiện công nghệ thông tin, truyền thông
(ICT) như internet, truyền hình, báo chí, sách vở,...
thuvienhoclieu.com
Trang 15
thuvienhoclieu.com
- Ngoài ra, người cảm thụ tác phẩm cũng rất cần những hiểu biết về chính trị đời sống, những kinh nghiệm và sự từng trải cá nhân.
+ Trong thực tế rất nhiều HS không biết đèo Ngang thuộc tỉnh nào, nằm ở vị
trí nào, không biết các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Thu Bồn,
sông Đồng Nai, sông Hương, sông Đà... chảy qua những đâu, không có những
hiểu biết sơ giản về những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử nổi tiếng
của Việt Nam cũng như của thế giới, như thế khó lòng hiểu được tác phẩm.
+ Văn học là một môn nghệ thuật, nó có quan hệ đến nhiều nghệ thuật khác,
cho nên những hiểu biết về âm nhạc, hội họa, điện ảnh,... nhất là biết đến các danh
nhân và các kiệt tác nghệ thuật cũng hết sức cần thiết.
2.3. Kĩ năng tiếp nhận văn bản.
- Ngoài việc nắm vững kiến thức, cần rèn luyện để có cách thức tiếp nhận văn
bản văn học. Kĩ năng tiếp nhận văn học thể hiện ở khả năng biết cảm thụ, nhận
biết, chỉ ra và lí giải được cái hay, cái đẹp của văn bản văn học một cách chính
xác, độc đáo, giàu sức thuyết phục.
- Văn bản văn học là một loại văn bản đặc biệt. Nó phản ánh cuộc sống, con
người thông qua phương tiện nghệ thuật ngôn từ. Muốn hiểu được cái hay, cái
đẹp về nội dung của văn bản văn học trước hết người đọc phải thông qua ngôn
từ, vượt qua được bức tường ngôn ngữ và thấy được tác dụng của các hình thức
nghệ thuật được sử dụng trong văn bản.
- Như thế, muốn hiểu văn bản văn học, muốn mở cánh cửa bước vào thế giới
hình tượng của tác phẩm, phải biết cách; phải rèn luyện nhiều để có kĩ năng tiếp
nhận loại văn bản này.
* Một số lưu ý về kĩ năng và cách thức tiếp nhận văn bản văn học:
- Nguyên tắc hàng đầu của tiếp nhận văn bản văn học là không được thoát li
văn bản - không được suy diễn một cách tuỳ tiện, thiếu cơ sở - mà phải dựa vào
câu chữ và các biểu hiện hình thức của văn bản.
+ Cái hay cái đẹp của nội dung phải được phân tích, chỉ ra, thưởng thức và
đánh giá thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản.
+ Trong quá trình luyện tập phân tích, cảm thụ văn bản văn học, cần nắm
được các hình thức nghệ thuật mà nhà văn thường vận dụng để tạo nên hình tượng
văn học và thế giới nghệ thuật trong tác phẩm.
+ Các hình thức này không nhiều, nó giống như hệ thống chữ cái trong một
ngôn ngữ. Với tiếng Việt chỉ cần 24 chữ cái chúng ta có thể ghép lại thành vô số
các từ, ngữ, câu văn,... khác nhau. Nhà văn khi tạo nên tác phẩm của mình cũng
dựa trên một số yếu tố hình thức nghệ thuật nhất định.
thuvienhoclieu.com
Trang 16
thuvienhoclieu.com
- Một số yếu tố cơ bản mà bất kì nhà văn nào cũng phải sử dụng. Nghĩa là khi
đọc - hiểu, phân tích, cảm nhận văn bản văn học phải dựa vào các yếu tố này để
chỉ ra thông điệp nội dung và ý nghĩa của văn bản đó. Các yếu tố đó là:
+ Ngữ âm: vần điệu, thanh điệu, nhịp điệu.
+ Từ ngữ, hình ảnh, các phép tu từ.
+ Không gian và thời gian.
+ Nhân vật: nhân vật trong tác phẩm văn xuôi và trong tác phẩm trữ tình.
+ Cốt truyện: tình huống truyện, các biến cố và cách tổ chức biến cố.
+ Chi tiết.
+ Đặc điểm lời văn.
+ Bút pháp miêu tả: tả người và tả cảnh, tả ngoại hình và tả nội tâm,...
Mỗi văn bản văn học được viết theo một thể loại nào đó và thể loại ấy sẽ
"buộc" tác giả lựa chọn một số yếu tố hình thức nghệ thuật phù hợp nêu trên để
thể hiện nội dung.
- Quy trình phân tích, cảm thụ (tiếp nhận) một văn bản văn học rất đạ dạng và
phong phú, tuy nhiên trong nhà trường phổ thông, trước hết, HS cần rèn luyện
theo quy trình ba bước mà nhiều người đã tổng kết (thường gọi là quy trình tổng phân - hợp):
+ Bước...
 






Các ý kiến mới nhất