Chào mừng quý vị đến với website của thư viện ông ích đường
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
BD Văn lớp 9

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thu Hồng
Ngày gửi: 07h:41' 23-01-2024
Dung lượng: 584.8 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thu Hồng
Ngày gửi: 07h:41' 23-01-2024
Dung lượng: 584.8 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TÀI LIỆU THAM KHẢO BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN NGỮ VĂN 9
HỆ THỐNG KIẾN THỨC DẠY - HỌC
THỜI GIAN
Tháng 8/20..
Tháng 9/20..
Tháng10/ 20..
TÊN CHUYÊN ĐỀ
NỘI DUNG CƠ BẢN
1. Củng cố, ôn tập 1.1. Khái quát một số kiến thức về văn bản
một số đơn vị
trong chương trình Ngữ văn 6,7,8.
kiến thức cũ.
1.2. Ôn tập kiểu bài nghị luận chứng minh.
1.3. Ôn tập kiểu bài nghị luận giải thích.
1.4. Kiểu bài nghị luận tổng hợp.
2.1. Nghị luận văn học: Nghị luận về một
2. Chuyên đề 1:
tác phẩm thơ, truyện hoặc một đoạn trích.
Văn nghị luận
2.2 Nghị luận xã hội: Nghị luận về một sự
việc, hiện tượng đời sống; một vấn đề tư
tưởng đạo lí.
2.3. Củng có khắc sâu kiến thức và kĩ năng
làm văn nghị luận với các đề văn cụ thể gắn
với các kiến HS đã hoc ở các lớp Dưới.
3.1. Cung cấp một số kiến thức lí luận: văn
học là gì, các chức năng văn học, thể loại
3. Chuyên đề 2:
văn học, nhà văn và quá trình sáng tác, văn
Tìm hiểu về một số
học và sự tiếp nhận văn học...
vấn đề lí luận
3.2. Hướng dẫn cách vận dụng lí luận văn
văn học.
học trong làm văn nghị luận.
4.1. Khái quát chung về văn học trung đại
Việt Nam: thành phần cấu tạo, các nội dung
chính, đặc điểm thi pháp...
4. Chuyên đề 3:
4.2. Giới thiệu chi tiết về văn học trung đại
Khái quát về
Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ VI đến thế kỉ
văn học trung đại
XVIII.
Việt Nam
4.3. Các bài tập củng cố chuyên đề.
5.1. Giới thiệu khái quát về tác giả và tập
“Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ.
5. Chuyên đề 3:
5.2. Tìm hiểu chi tiết về “Chuyện người con
Nguyễn Dữ và tập
gái Nam Xương”
“Truyền kì mạn
5.3. Luyện đề củng cố kiến thức chuyên đề.
lục”
6.1. Rèn luyện các kĩ năng xác định đề, xây
dựng dàn ý, dựng đoạn, hành văn, khái quát,
liên hệ, nâng cao, vận dụng lí luận văn học...
6. Chuyên đề 4:
6.2. Kết hợp luyện đề với kiến thức các
Kĩ năng làm văn
chuyên đề đã học và các kiến thức mở rộng,
nghị luận.
tổng hợp.
Trang 1
Tháng 10/ 20..
Tháng 11/ 20..
Tháng 11/20..
Tháng 12/20..
Tháng 1/20..
7. Chuyên đề 5:
“Truyện Kiều”
Nguyễn Du
8. Chuyên đề 6:
Tác giả Nguyễn
Đình Chiểu và
“Truyện Lục
Vân Tiên”.
9. Chuyên đề 8:
Văn học hiện đại
Việt Nam từ sau
Cách mạng tháng
Tám 1945.
7.1. Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và tác
phẩm “Truyện Kiều”.
7.2. Tìm hiểu chi tiết các đoạn trích học và
đọc thêm trong “Truyện Kiều”.
7.3. Luyện đề với các kiểu bài: thuyết minh,
nghị luận, đặc biệt là các đề văn nâng cao
mang tính khái quát so sánh.
8.1. Giới thiệu chung về tác giả và tác
phẩm.
8.2. Tìm hiểu chi tiết các đoạn trích học và
các văn bản khác của tác giả để hiểu thêm
vẻ đẹp thơ văn và tâm hồn nhà thơ Nguyễn
Đình Chiểu.
8.3. Luyện đề khắc sâu kiến thức và tiếp tục
rèn luyện kĩ năng làm văn.
9.1. Khái quát những nét lớn về lịch sử Việt
Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 và
những đặc điểm của tình hình văn học thời
kì này.
9.2. Tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm tiêu
biểu được học trong chương trình.
9.3. Tìm hiểu một số hình tượng chủ yếu
của văn học giai đoạn này: hình tượng
người lính, người lao động, người phụ nữ...
9.4. Luyện đề về văn học hiện đại Việt
Nam.
Trang 2
Tháng 2,3/20..
10.1. Củng cố kiến thức cơ bản và nâng cao
trong chương trình.
10.2. Hệ thống những nét lớn từng thời kì
văn học, từng chủ đề, so sánh, đối chiếu các
vấn đề có sự tương đồng trong kiến thức
10. Ôn tập tổng hợp chương trình.
và luyện đề
10.3 Luyện đề tổng hợp, kết hợp với việc
tiếp tục rèn kĩ năng làm văn của HS: làm
văn nghị luận văn học và nghị luận xã hội.
11.1.Ngoài các bước tiến hành ôn tập nh
trên, GV tích cực ra đề kiểm tra đánh giá,
HS làm bài, chấm chữa bằng nhiều hình
thức khác nhau.
11.2. Bổ sung những kiến thức về các văn
bản khác trong chương trình (một số văn
bản nước ngoài, các văn bản học thêm...),
đặc biệt có thể còn có kiến thức của các lớp
6,7,8
11.3 Giải đáp các thắc mắc của HS.
11.4. Chuẩn bị điều kiện tốt nhất để HS tự
tin tham gia kì thi HSG các cấp.
Trang 3
MỘT SỐ NỘI DUNG THAM KHẢO
PHẦN VĂN NGHỊ LUẬN
A. MỤC TIÊU:
- Giúp HS củng cố kiến thức về văn nghị luận đã học ở các lớp 7,8.
- Hiểu thêm về một số kiểu bài nghị luận trong chương trình Ngữ văn 9: nghị luận về
một sự việc, hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí; nghị luận
về một tác phẩm thơ, truyện hoặc một đoạn trích trong tác phẩm văn học.
- Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận: kĩ năng xác định đề, kĩ năng lập ý, dựng đoạn,
kĩ năng diễn đạt ...
- Đây là những kiến thức xuyên suốt trong năm học lớp 9 nhưng vì sau mỗi chuyên
đề ngoài việc cung cấp kiến thức về tác giả, tác phẩm còn có phần luyện đề nên nội
dung kiến thức về văn nghị luận được tìm hiểu sớm góp phần rèn kĩ năng tổng hợp
cho HS trong học tập môn Ngữ văn.
B. CHUẨN BỊ:
- Tài liệu tham khảo:
+ Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông (Nguyễn Quốc Siêu)
+ Nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận (Nhà xuất bản GD, nhiều tác giả)
+ Tập làm văn THCS (Tạ Đức Hiền)
+ Dạy học Tập làm văn THCS (Nguyễn Trí, NXB GD)...
- GV tổng hợp lí thuyết về văn nghị luận và các bài tập rèn luyện kĩ năng.
- HS củng cố kiến thức về văn nghị luận đã học và đọc tài liệu bổ sung kiến thức.
C. NỘI DUNG:
I. Ôn tập văn nghị luận:
- Khái quát chung về văn nghị luận: đặc điểm của văn nghị luận, đề văn nghị luận,
lập ý cho bài văn nghị luận (phần này GV hướng dẫn HS tự ôn tập theo kiến thức
Ngữ văn 7)
- Phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận: phép lập luận chứng minh, phép lập
luận giải thích, xây dựng và trình bày luận điểm trong văn nghị luận...(phần này GV
hướng dẫn HS tự ôn tập theo kiến thức Ngữ văn 8)
- Các yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả rtong văn nghị luận.
- GV chú ý các tiêu chí của dẫn chứng văn chứng minh, lí lẽ trong văn giải thích.
II. Giới thiệu các kiểu bài nghị luận trong chương trình Ngữ văn 9.
1. Phần lí thuyết:
a. GV cung cấp các kiến thức lí thuyết cơ bản về các kiểu bài nghị luận: khái niệm,
nội dung nghị luận, hình thức - bố cục bài văn nghị luận, dàn bài chung của các kiểu
bài:
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
- Nghị luận về một vấn đề t tuởng, đạo lí.
- Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc một đoạn trích).
- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
b. GV chú ý phân biệt giữa các kiểu bài nghị luận:
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống lấy sự việc, hiện tượng đời sống làm
đối tượng chính; nghị luận vè một vấn đề tư tưởng đạo lí lấy tư tưởng đạo lí làm đối
tượng chính. Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống đi từ sự việc, hiện tượng
cụ thể mà nâng lên thành vấn đề tư tưởng đạo đức; nghị luận về một vấn đề tư tưởng
đạo lí thì từ vấn đề tư tưởng đạo đức mà suy nghĩ về cuộc sống xã hội sau khi được
Trang 4
giải thích, phân tích thì vận dụng các sự việc, thực tế đời sống để chứng minh nhằm
trở lại khẳng định (hay phủ định) một t tổng nào đó.
- Nghị luận về một tác phẩm truyện (về nội dung, nghệ thuật, nhân vật, đoạn tích của
tác phẩm) cần chú ý tới các đặc điểm của truyện: kết cấu, tình huống, chi tiết, sự việc,
ngôn ngữ nhân vật... Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần chú ý tới các đặc điểm
của thơ: ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, cảm xúc, vần nhịp, các biện pháp tu từ ...
2. Kĩ năng làm bài văn nghị luận:
a. Kĩ năng xác định đề:
- Đọc kĩ đề, lu ý những từ ngữ quan trọng gợi hướng làm bài.
- Xác định đúng kiểu bài nghị luận để tránh nhầm lẫn về phương pháp .
- Xác định nội dung nghị luận để tránh lạc đề.
- Xác định phạm vi t liệu cho bài viết.
- GV đặc biệt lu ý kiểu ra đề có mệnh lệnh và không có mệnh lệnh, những đề mở để
HS làm quen với những yêu cầu mới trong làm văn nghị luận, nhất là các đề nghị
luận xã hội.
b. Kĩ năng tìm ý và lập dàn ý:
- Một bài văn hay trước hết là phải có những ý hay. Ý hay là ý đúng, sâu, mới và
riêng. Khi tìm ý cần chú ý một số vấn đề sau:
+ Có những nhận xét khái quát từ những vấn đề nổi bật, tiêu biểu trong nội dung
nghị luận.
+ Đề xuất luận điểm từ sự so sánh những nội dung, đối tượng cùng loại.
+ Xây dựng ý từ những ý kiến phản đề.
+ Đặt các câu hỏi tìm ý, nhất là đối với kiểu bài nghị luận xã hội...
- Lập dàn ý, sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lí.
c. Kĩ năng dựng đoạn:
- Viết đoạn mở bài:
+ Mở bài theo cách trực tiếp.
+ Mở bài theo cách gián tiếp (chú ý rèn kĩ đối với HSG).
- Viết các đoạn trong phần thân bài:
+ Các cách lập luận: diễn dịch, quy nạp, tổng hơp - phân tích...
+ Kĩ năng liên kết giữa các đoạn văn: sử dụng từ ngữ, câu để liên kết.
- Viết đoạn kết bài:
+ Xây dựng đoạn kết bài tương ứng với mở bài.
+ Các cách kết bài mở...
* Trong quá trình dựng đoạn, chú ý kĩ năng dùng từ, đặt câu, phát triển ý để
tăng chất văn và độ sâu sắc cho bài viết. Kết hợp các kiến thức GV cung cấp, các ví
dụ minh hoạ, cần dành thời gian cho HS luyện viết và chấm chữa, phát huy tính sáng
tạo của HS trong làm văn.
Trang 5
Chuyên đề
TỪ VĂN BẢN ĐẾN BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
A. CƠ SƠ LÍ LUẬN
Tích hợp là quan điểm cơ bản của việc đổi mới nội dung chương trình SGK và
đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn Ngữ văn của nhiều năm nay. Trong
chương trình SGK Ngữ văn THCS, các tác giả biên soạn đã thể hiện rất rõ quan điểm
tích hợp này ở mọi hình thức: tích hợp ngang giữa các phân môn, tích hợp dọc, tích
hợp đồng tâm... Sự đổi mới này không chỉ giúp HS có được kiến thức tổng hợp mà
còn có kĩ năng tốt hơn trong quá trình học và làm văn.
Trong các kiểu làm văn, SGK Ngữ văn cũng đã thực sự chú ý đến kĩ năng vận
dụng kiến thức tác phẩm để phục vụ cho các bài làm văn nghị luận văn học nh: chứng
minh, giải thích, phân tích một đoạn thơ, đoạn truyện hoặc một tác phẩm thơ, một tác
phẩm truyện. Bên cạnh đó còn có kiểu bài nghị luận xã hội giúp HS không chỉ rèn
luyện tốt kĩ năng làm văn nghị luận mà còn có thêm cách nhìn, cách nghĩ về xã hội
sâu sắc hơn, nhận thức được rõ hơn vai trò của mỗi cá nhân trước những vấn đề xã
hội ngày nay.
Có một điều thật lí thú là trong các tác phẩm văn học được học trong chương
trình Ngữ văn, mỗi tác phẩm không chỉ là một bức tranh thu nhỏ của cuộc sống, là
một nét tâm hồn của con người mà những tác phẩm đó còn có khả năng bồi đắp tâm
hồn người đọc, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời và con người quanh ta.
Chính vì vậy các tác phẩm văn học này thực sự đã trở thành một nguồn tư liệu quý, là
những đề tài phong phú cho bài làm văn nghị luận xã hội. Việc vận dụng kiến thức có
trong văn bản vào làm văn nghị luận xã hội không chỉ giúp HS củng cố lại kiến thức
văn bản mà còn giúp các em thành thạo hơn về kĩ năng làm văn và biết đi từ văn học
đến cuộc sống.
Bài viết này xin được bàn về kĩ năng vận dụng kiến thức văn bản được học
trong chương trình Ngữ văn đến việc làm văn nghị luận xã hội với mục đích khẳng
định tác dụng của quan điểm tích hợp trong đổi mới phương pháp dạy học và bàn
thêm về kĩ năng làm văn của HS trong nhà trường.
B. NỘI DUNG CHÍNH.
I. Ý nghĩa xã hội của các tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn.
Văn học Việt Nam, cả văn học dân gian và văn học viết là sản phẩm tinh thần
quý báu của dân tộc, phản ánh tâm hồn và tính cách Việt Nam với những nét bền
vững đã thành truyền thống và có sự vận động trong trường kì lịch sử. Mỗi thời kì,
mỗi giai đoạn, văn học lại có những nội dung cụ thể, phản ánh một cách chân thực về
xã hội và con người thời kì đó. Vốn có tinh thần cộng đồng ngay từ buổi đầu hình
thành dân tộc, lại phải trải qua nhiều cuộc xâm lăng, phải thường xuyên vật lộn với
những khắc nghiệt của thiên nhiên để sinh tồn và phát triển nên tinh thần yêu nước, ý
thức cộng đồng đã trở thành truyền thống sâu sắc và bền vững của dân tộc Việt Nam.
Tư tưởng yêu nước thể hiện trong tinh thần phục hng dân tộc ở thời Lí, trong hào khí
Đông A thời Trần, trong ý thức sâu sắc và đầy tự hào về đất nước, về dân tộc ở thơ
văn Nguyễn Trãi. Tinh thần ấy lại sôi nổi, mạnh mẽ, thiết tha hơn bao giờ hết trong
thơ văn chống Pháp, trong văn học yêu nước đầu thế kỉ XX, đặc biệt là trong văn học
của hai thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Tinh thần yêu nước còn thể
Trang 6
hiện trong những rung động và niềm yêu mến, tự hào về quê hương, thiên nhiên đất
nước, tự hào về tiếng nói của dân tộc...
Các sáng tác văn học còn đề cao tinh thần nhân đạo - tình yêu thương con
người - một truyền thống sâu đậm của văn học Việt Nam. Tất cả đều hướng về khẳng
định những giá trị tốt đẹp của con người, lên tiếng mạnh mẽ bênh vực cho quyền
sống của con người đồng thời nói lên khát vọng về hạnh phúc, mơ ước về tự do, lẽ
công bằng. Nhiều tác phẩm hướng tinh thần nhân đạo vào những tầng lớp nghèo khổ,
tố cáo mạnh mẽ những bất công xã hội, những thế lực thống trị, áp bức và lên tiếng
đòi quyền sống xứng đáng cho con người. Các tác phẩm văn học mới đặc biệt hướng
vào khẳng định những phẩm chất tốt đẹp và sức mạnh giải phóng của quần chúng
nhân dân lao động, ngợi ca những tình cảm cộng đồng nh tình đồng chí, đồng bào.
Nhiều tác phẩm đề cập đến những vấn đề gần gũi thiết thực trong đời sống tinh
thần của mỗi con người nh tình cảm gia đình, sự giật mình thức tỉnh của lơng tâm
trước vòng xoáy cuộc đời, truyền thống uống nước nhớ nguồn, những bài học đạo
đức nhẹ nhàng mà sâu sắc về cái đẹp, tình yêu thương loài vật...
Văn học Việt Nam có lịch sử lâu dài, gắn bó mật thiết với lịch sử, với vận
mệnh của nhân dân, lu giữ và toả chiếu tinh hoa, bản sắc tâm hồn dân tộc qua các thời
đại; là vốn quý của nền văn hoá dân tộc; nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn, tính cách, tư
tưởng cho các thế hệ người Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Tất cả các nội dung
đó đều mang một ý nghĩa xã hội sâu sắc và đều có thể trở thành một đề tài độc đáo
cho các bài làm văn nghị luận, nhất là kiểu bài làm văn nghị luận xã hội.
II. Đặc trưng của kiểu bài nghị luận xã hội.
Văn bản nghị luận được tạo lập nhằm giải quyết một vấn đề nào đó đặt ra trong
cuộc sống. Người viết sẽ trình bày các tư tưởng, quan điểm của mình về vấn đề đặt ra
nhằm thuyết phục người đọc tán thành và làm theo. Vấn đề càng có ý nghĩa xã hội
sâu rộng, văn bản nghị luận càng có giá trị. Nghệ thuật nghị luận càng sắc bén, chặt
chẽ, văn bản càng có tác dụng rộng rãi và mạnh mẽ. Nghị luận xã hội là một lĩnh vực
rất rộng lớn, từ bàn bạc những sự việc, hiện tượng đời sống đến bàn luận những vấn
đề chính trị, chính sách, từ những vấn đề đạo đức, lối sống đến những vấn đề có tầm
chiến lợc, những vấn đề tư tưởng triết lí.
Hình thức nghị luận thứ nhất là nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.
Vốn sống của học sinh bắt đầu từ nhận thức về từng sự việc trong đời sống hàng
ngày: một vụ cãi lộn, đánh nhau, một vụ đụng xe dọc đường, một việc quay cóp khi
làm bài, một hiện tượng nói tục, chửi bậy, thói ăn vặt xả rác, trẻ em hút thuốc lá, đam
mê trò chơi điện tử, bỏ bê học tập... Các sự việc, hiện tượng nh thế học sinh nhìn thấy
hằng ngày ở xung quanh nhưng ít có dịp suy nghĩ, phân tích, đánh giá chúng về các
mặt đúng - sai, lợi - hại, tốt - xấu... Bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng xung
quanh mà các em không xa lạ, từ những suy nghĩ của bản thân mà viết những bài văn
nghị luận nêu tư tưởng, quan niệm, đánh giá đúng đắn của mình. Đó có thể coi là một
hình thức nghị luận phù hợp với kinh nghiệm lứa tuổi và trình độ suy luận của học
sinh.
Hình thức nghị luận thứ hai là nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí bàn về
một tư tưởng, đạo đức, lối sống có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con người.
Các tư tưởng đó thường được đúc kết trong những câu tục ngữ, danh ngôn, ngụ ngôn,
khẩu hiệu hoặc khái niệm. Những tư tưởng, đạo lí ấy thường đựơc nhắc đến trong đời
Trang 7
sống song hiểu cho rõ, cho sâu, đánh giá đúng ý nghĩa của chúng là một yêu cầu cần
thiết đối với mỗi người.
Bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có phần giống với bài nghị luận về về
một sự việc, hiện tượng đời sống ở chỗ: sau khi phân tích sự việc, hiện tượng, người
viết có thể rút ra những tư tưởng và đạo lí đời sống. Nhưng hai kiểu bài này khác
nhau về xuất phát điểm và lập luận. Về xuất phát điểm, bài nghị luận về một sự việc,
hiện tượng đời sống xuất phát từ sự thực đời sống mà nêu tư tưởng, bày tỏ thái độ.
Bài nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí, sau khi giải thích, phân tích thì vận dụng các
sự thật đời sống để chứng minh nhằm trở lại khẳng định (hay phủ định) một tư tưởng
nào đó. Đây là nghị luận nghiêng về tư tưởng, khái niệm, lí lẽ nhiều hơn; các phép
lập luận giải thích, chứng minh, tổng hợp thường được sử dụng nhiều.
Như vậy, kiểu bài nghị luận xã hội trước hết được dùng để bàn luận, đánh giá,
nhận xét về những vấn đề xã hội, những hiện tượng, sự việc hoặc những vấn đề tư
tưởng đạo lí trong đời sống xã hội, đời sống tinh thần của con người. Nh trên đã chỉ
ra, các tác phẩm văn học cũng trở thành một nguồn đề tài vô cùng phong phú, có
nhiều nội dung trở thành đối tượng của kiểu bài nghị luận. Trong chương trình Ngữ
văn 9, nhiều tác phẩm đã tái hiện cuộc sống đất nước và hình ảnh con người Việt
Nam trong suốt thời kì lịch sử từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. Đất nước và con
người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ với nhiều gian
khổ, hi sinh nhưng rất anh hùng, công cuộc lao động xây dựng đất nước và những
quan hệ tốt đẹp của con người. Những điều chủ yếu mà các tác phẩm đã thể hiện
chính là tâm hồn, tình cảm, tư tưởng con người trong một thời kì lịch sử có nhiều
biến động lớn lao, những đổi thay sâu sắc: tình yêu quê hương đất nước, tình đồng
chí, sự gắn bó với cách mạng, lòng kính yêu Bác Hồ, những tình cảm gần gũi bền
chặt của con người nh tình bà cháu, tình mẹ con trong sự thống nhất chung những
tình cảm rộng lớn. Dưới đây là một số ví dụ cụ thể để minh chứng và có thể coi là
một tư liệu vận dụng trong quá trình giảng dạy nhằm mục đích củng cố sâu sắc hơn
kiến thức đọc hiểu của học sinh, khả năng liên hệ đến thực tế và rèn thêm kĩ năng làm
văn nghị luận xã hội cho các em.
III. Từ văn bản đến bài văn nghị luận xã hội.
1. Yêu cầu chung của bài văn nghị luận xã hội lấy đề tài từ các văn bản.
a. Mục đích kiểu bài:
- Củng cố kiến thức văn bản cho học sinh, giúp các em hiểu thêm về ý nghĩa
của văn chương trong đời sống xã hôi. Khẳng định tính giáo dục, tính tư tưởng của
tác phẩm, và bồi đắp thêm tình cảm cho học sinh với văn học, tình cảm với cuộc
sống, con người xung quanh.
- Rèn luyện kĩ năng làm văn, khả năng liên hệ và đánh giá một vấn đề văn học
mang tính xã hội.
b. Xác định đúng kiểu bài: Nghị luận xã hội (Phần lớn là nghị luận về một vấn đề tư
tưởng đạo lí).
c. Xác định nội dung nghị luận của đề bài yêu cầu:
- Đề có thể yêu cầu rõ, nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí đã được xác
định trong nội dung bài học. Ví dụ: lí tưởng của thanh niên ngày nay (được gợi ý từ
văn bản “Lặng lẽ Sa Pa”), ý nghĩa của gia đình và quê hương trong đời sống con
Trang 8
người (được gợi ý từ văn bản “Nói với con”), mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể
(được gợi ý từ kịch “Tôi và chúng ta”, “Mùa xuân nho nhỏ”)...
- Đề có thể mở để học sinh chọn lựa nội dung nghị luận, bàn sâu vào một vấn
đề nào đó được gợi ý từ văn bản đã học. Ví dụ: vẻ đẹp của đức tính khiêm nhường
em học được trong ý thơ Thanh Hải trong bài “Mùa xuân nho nhỏ”, và cũng ở đó có
thể chọn nội dung nghị luận khác quan niệm về sự cống hiến của mỗi cá nhân với quê
hương, với cuộc đời chung...
d. Các nội dung chính trong bài viết:
- Trước hết học sinh hiểu và phải trình bày được những ý hiểu của mình về nội
dung mà tác phẩm đề cập đến. Đây là ý phụ trong bài viết nhưng không thể thiếu và
cũng không làm quá kĩ dễ lạc sang kiểu bài nghị luận văn học. Học sinh bằng sự phân
tích để đi đến khái quát nội dung xã hội cần nghị luận.
- Nội dung chính của bài viết là các em cần trình bày những hiểu biết của bản
thân về vấn đề xã hội được nhắc đến trong văn bản bằng vốn kiến thức thực tế trong
cuộc sống, thực trạng của vấn đề với các mặt tốt - xấu, đúng - sai, cũ - mới... Từ đó
bày tỏ thái độ, quan điểm và đa ra những giải pháp, liên hệ mở rộng vấn đề , giải
quyết vấn đề sâu sắc và thuyết phục.
e. Hình thức của bài viết:
- Bài viết đảm bảo bố cục thông thường một bài văn nghị luận: mở bài, thân
bài và kết luân. Các đoạn văn trong bài có tính liên kết chặt chẽ cả về nội dung và
hình thức.
- Diễn đạt bằng các hình thức lập luận của văn nghị luận: giải thích, chứng
minh, phân tích, tổng hợp. Dẫn chứng của kiểu bài này có phạm vi rộng, nhiều nhất là
trong đời sống xã hội và có thể trong cả văn học, lịch sử...
2. Một số đề văn nghị luận xã hội từ các văn bản.
Đề số 1: Trong bài thơ “Con cò” nhà thơ Chế Lan Viên có viết:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”
Ý thơ gợi cho em những suy nghĩ gì về tình mẹ trong cuộc đời của mỗi con
người.
Để làm được đề bài này, học sinh cần xác định đúng các yêu cầu sau:
- Kiểu bài: Nghị luận xã hội (nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí)
- Nội dung nghị luận: Vẻ đẹp (ý nghĩa) của tình mẹ trong cuộc đời mỗi con người.
- Phạm vi tư liệu: Những hiểu biết và suy nghĩ của cá nhân về tình mẹ trong cuộc
sống của mỗi người.
- Các nội dung cần viết:
+ Giải thích qua ý thơ của tác giả Chế Lan Viên (ý phụ): Dựa trên nội dung bài
thơ “Con cò”, đặc biệt là hai câu thơ mang ý nghĩa triết lí sâu sắc khẳng định tình mẹ
bao la, bất diệt. Trước mẹ kính yêu, con dù có khôn lớn trưởng thành nh thế nào đi
chăng nữa thì vẫn là con bé nhỏ của mẹ, rất cần và luôn được mẹ yêu thương, che chở
suốt đời.
+ Khẳng định vai trò của mẹ trong cuộc sống của mỗi người (ý chính): Mẹ là
người sinh ra ta trên đời, mẹ nuôi nấng, chăm sóc, dạy dỗ chúng ta. Mẹ mang đến cho
con biết bao điều tuyệt vời nhất: nguồn sữa trong mát, câu hát thiết tha, những nâng
đỡ, chở che, những yêu thương vỗ về, mẹ là bến đỗ bình yên của cuộc đời con, là
Trang 9
niềm tin, là sức mạnh nâng bước chân con trên đường đời,... Công lao của mẹ nh
nước trong nguồn, nước biển Đông vô tận. (Dẫn chứng cụ thể)
+ Mỗi chúng ta cần phải làm gì để đền đáp công ơn của mẹ? Cuộc đời mẹ
không gì vui hơn khi thấy con mình mạnh khoẻ, chăm ngoan, giỏi giang và hiếu thảo.
Mỗi chúng ta cần rèn luyện, học tập và chăm ngoan để mẹ vui lòng: vâng lời, chăm
chỉ, siêng năng, học giỏi, biết giúp đỡ cha mẹ...(Có dẫn chứng minh hoạ).
+ Phê phán những biểu hiện, những thái độ, hành vi cha đúng với đạo lí làm
con của một số người trong cuộc sống hiện nay: cãi lại cha mẹ, ham chơi, làm những
việc vi phạm pháp luật để mẹ lo lắng, đau lòng... Có thể phê phán tới cả những hiện
tượng mẹ ruồng rẫy, vất bỏ con, cha làm tròn trách nhiệm của người cha, người mẹ...
+ Liên hệ, mở rông đến những tình cảm gia đình khác: tình cha con, tình cảm
của ông bà và các cháu, tình cảm anh chị em để khẳng định đó là những tình cảm bền
vững trong đời sống tinh thần của mỗi người. Vì vậy mỗi chúng ta cần gìn giữ và
nâng niu. Tình cảm gia đình bền vững cũng là cội nguồn sức mạnh dựng xây một xã
hội bền vững, đẹp tươi.
Đề số 2: Lấy tựa đề “Gia đình và quê hương - chiếc nôi nâng đỡ đời con”,
hãy viết một bài nghị luận nêu suy nghĩ của em về nguồn cội yêu thương của mỗi con
người.
- Đề bài này được dựa trên nội dung, ý nghĩa của bài thơ “Nói với con” của
nhà thơ Y Phương, một bài thơ đã viết rất thành công về gia đình và quê hương bằng
phong cách rất riêng của một nhà thơ dân tộc.
- Bài viết của học sinh trên cơ sở kiến thức văn bản đó cần đảm bảo các yêu
cầu sau:
+ Khẳng định ý nghĩa của gia đình và quê hương trong cuộc sống của mỗi con
người: Gia đình là nơi có mẹ, có cha, có những người thân yêu, ruột thịt của chúng ta.
Ở nơi ấy chúng ta được yêu thương, nâng đỡ, khôn lớn và trưởng thành. Cùng với gia
đình là quê hương, nơi chôn nhau cất rốn của ta. Nơi ấy có mọi nguời ta quen biết và
thân thiết, có cảnh quê thơ mộng trữ tình, có những kỉ niệm ngày ấu thơ cùng bè bạn,
những ngày cắp sách đến trường... Gia đình và quê hương sẽ là bến đỗ bình yên cho
mỗi con người; dù ai đi đâu, ở đâu cũng sẽ luôn tự nhắc nhở hãy nhớ về nguồn cội
yêu thương.
+ Mỗi chúng ta cần làm gì để xây dựng quê hương và làm rạng rỡ gia đình?
Với gia đình, chúng ta hãy làm tròn bổn phận của người con, người cháu: học giỏi,
chăm ngoan, hiếu thảo để ông bà, cha mẹ vui lòng. Với quê hương, hãy góp sức trong
công cuộc dựng xây quê hương: tham gia các phong trào vệ sinh môi trường để làm
đẹp quê hương, đấu tranh trước những tệ nạn xã hội đang diễn ra ở quê hương. Khi
trưởng thành trở về quê hương lập nghiệp, dựng xây quê mình ngày một giầu đẹp...
+ Có thái độ phê phán trước những hành vi phá hoại cơ sở vật chất, những suy
nghĩ cha tích cực về quê hương: chê quê hương nghèo khó, chê người quê lam lũ, lạc
hậu, làm thay đổi một cách tiêu cực dáng vẻ quê hương mình...
+ Liên hệ, mở rộng đến những tác phẩm viết về gia đình và quê hương để thấy
ý nghĩa của quê hương trong đời sống tinh thần của mỗi con người: “Quê hương” (Đỗ
Trung Quân), “Quê hương” (Giang Nam), “Quê hương” (Tế Hanh), “Nói với con” (Y
Phương)...
Trang 10
+ Nâng cao: Nguồn cội của mỗi con người là gia đình và quê hương, nên hiểu
rộng hơn quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, quê hương còn là Tổ quốc;
tình yêu gia đình luôn gắn liền với tình yêu quê hương, tình yêu đất nước. Mỗi con
người luôn có sự gắn bó những tình cảm riêng t với những tình cảm cộng đồng ...
Đề số 3: Trước khi vĩnh biệt cõi đời, nhà thơ Thanh Hải gửi lại lời trăng trối
bằng những thật câu thơ giản dị:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mơi
Dù là khi tóc bạc.”
(Trích “Mùa xuân nho nhỏ”)
Theo em tác giả đã nhẹ nhàng nhắc chúng ta điều gì qua những dòng thơ ấy?
Bài viết của học sinh cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Hiểu khái quát về ý thơ của nhà thơ Thanh Hải: Những câu thơ bày tỏ những
suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước, thể hiện khát vọng
được hoà nhập vào cuộc sống của đất nước, được cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé
của mình cho đất nước, cho cuộc đời chung. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một
cách chân thành trong những tình ảnh thơ đệp một cách tự nhiên, giản dị. Đó mới là ý
nghĩa cao quý của đời người.
- HS có thể bàn luận sâu về một trong các ý sau :
+ Vẻ đẹp của đức tính khiêm nhờng, thái độ của mỗi cá nhân trước những cống
hiến vì tập thể, vì quê hương. HS cần nêu rõ khiêm nhờng là gì, biểu hiện của đức
tính khiêm nhờng, ý nghĩa của đức tính khiêm nhờng trong cuộc sống, trái với khiêm
nhờng là tự kiêu, tự đại...
+ Ý nghĩa của cuộc đời mỗi con người trong cuộc đời chung: Mỗi người phải
mang đến cho cuộc đời chung một nét đẹp riêng, phải cống hiến cái phần tinh tuý, dù
là bé nhỏ cho đất nước và phải không ngừng cống hiến dù khi còn trẻ hay lúc tuổi đã
già.
- Trong bài viết cần có dẫn chứng về người thật, việc thật hoặc các dẫn chứng
có từ trong các tác phẩm văn học được học và đọc thêm trong chương trình nh: “Lặng
lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long), “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê), “Khoảng
trời, hố bom” (Lâm Thị Mĩ Dạ)...
- Liên hệ tới bản thân về thái độ sống khiêm nhờng trước mọi người, trước bạn
bè (Nếu chọn ý 1). Hoặc liên hệ tới bản thân khi còn là học sinh cần làm gì để góp
phần
vào việc dựng xây quê hương, đất nước, xây đắp cuộc đời chung (Nếu chọn ý 2).
Trang 11
Đề số 4: Nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn “Bến quê” (Nguyễn Minh Châu) vào
những ngày cuối cùng của cuộc đời mình đã tìm thấy vẻ đẹp quê hương nơi bãi bồi
bên kia sông ngay trước của sổ nhà mình. Sự phát hiện đó của Nhĩ gợi cho em suy
nghĩ gì về cái đẹp trong cuộc sống?
- HS phải xác định được bài viết thuộc kiểu bài nghị luận xã hội-nghị luận về
một vấn đề t tởn: Quan niệm về cái đẹp trong cuộc sống của mỗi con người.
- Bài làm cần đảm bảo cơ bản các nội dung sau:
+ Phân tích được tâm trạng của nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời khi
phát hiện ra bãi bồi bên kia sông, ngay trước của sổ nhà mình. Nhĩ trước đó từng đi
khắp mọi nơi trên trái đất nhưng về cuối đời anh mắc bệnh trọng nằm liệt giêng mọi
hoạt động của anh đều phải nhờ vào người thân. Chính lúc này anh mới nhận ra vẻ
đẹp của những cánh hoa bằng lăng, của mặt sông Hồng màu đỏ nhạt, một dải đất bồi
dấp dính phù sa, của những sắc màu thân thuộc nh da thịt, nh hơi thở thân thuộc. Đó
là những phát hiện vừa mới mẻ, vừa muộn màng gửi gắm tâm trạng của một con
người nặng trĩu những từng trải, đau thương: yêu quê hương nhưng một đời phải li
hương, thường hờ hững và mắc vào những điều vòng vèo, chùng chình nên bây giờ
cảm thấy tiếc nuối, xa xôi. Qua đó nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi đến mọi
người một thông điệp: Cái đẹp thật gần gũi, cái đẹp nằm ngay trong những điều giản
dị, tiêu sơ của cuộc đời mà mỗi người vì sự thờ ơ có thể lãng quên.
+ Khẳng định cái đẹp nằm trong những điều giản dị, gần gũi: cái đẹp trong lời
ăn tiếng nói, trong trang phục giản dị hợp người hợp cảnh, trong gia đình với ngôi
nhà sạch sẽ gọn gàng, trong cách trang trí nhẹ nhàng thanh thoát không một chút cầu
kì, phô Trương; cái đẹp trong một buổi sớm mai trên con đường quen thuộc từ nhà
đến trường, trong những bông hoa dại ven đường mong manh bé nhỏ; cái đẹp trong
những cử chỉ thân mật gắn bó giữa bạn bè...
+ Con người cần phải tự ý thức để nhận ra và trân trọng những giá trị và vẻ đẹp
bình dị, đích thực của cuộc sống. Trước hết mỗi người phải biết yêu cái đẹp, trân
trọng và nâng niu vẻ đẹp trong cuộc đời. Mỗi người phải biết tạo ra cái đẹp cho mình
và cho mọi người để tô điểm cho cái đẹp của cuộc sống quanh ta. Có thể liên hệ tới
những câu nói “Ăn cho mình mặc cho người” hoặc “Không có người phụ nữ náo xấu,
chỉ có những người phụ nữ không biết làm đẹp mà thôi”
+ Phê phán những quan niệm sai lầm về cái đẹp của nhiều người trong cuộc
sống hiện nay: đẹp là phải ăn mặc sành điệu, đúng mốt hợp thời trang, đẹp là phải
sống trong ngôi nhà cao tầng trang trí cầu kì sang trọng trong khi chủ nhân của những
trang phục, ngôi nhà đó sống cha đẹp; đẹp là phải đi đến những nơi xa lạ, những nơi
có danh lam thắng cảnh trong khi người khách du lịch ấy cha nhận thức đúng đắn về
việc giữ gìn môi trường xung quanh, xem thường những nơi từng gắn bó, thân quen
từ trước...
+ Từ đó biết làm đẹp cho mình một cách phù hợp, làm đẹp cho quê hương, cho
cuộc đời chung, biết trân trọng những giá trị đích thực, giản dị và bền vững của cuộc
đời. Liên hệ đến ý thơ của tác giảTố Hữu:
“Còn gì đẹp trên đời hơn thế.
Người với người sống để yêu nhau.”
Yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng là một cách sống đẹp.
Trang 12
Đề số 5: Từ nhan đề và ý nghĩa vở kịch: “Tôi và chúng ta” của tác giả Lu
Quang Vũ, hãy viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa cá
nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay.
- HS cần xác định đúng ...
MÔN NGỮ VĂN 9
HỆ THỐNG KIẾN THỨC DẠY - HỌC
THỜI GIAN
Tháng 8/20..
Tháng 9/20..
Tháng10/ 20..
TÊN CHUYÊN ĐỀ
NỘI DUNG CƠ BẢN
1. Củng cố, ôn tập 1.1. Khái quát một số kiến thức về văn bản
một số đơn vị
trong chương trình Ngữ văn 6,7,8.
kiến thức cũ.
1.2. Ôn tập kiểu bài nghị luận chứng minh.
1.3. Ôn tập kiểu bài nghị luận giải thích.
1.4. Kiểu bài nghị luận tổng hợp.
2.1. Nghị luận văn học: Nghị luận về một
2. Chuyên đề 1:
tác phẩm thơ, truyện hoặc một đoạn trích.
Văn nghị luận
2.2 Nghị luận xã hội: Nghị luận về một sự
việc, hiện tượng đời sống; một vấn đề tư
tưởng đạo lí.
2.3. Củng có khắc sâu kiến thức và kĩ năng
làm văn nghị luận với các đề văn cụ thể gắn
với các kiến HS đã hoc ở các lớp Dưới.
3.1. Cung cấp một số kiến thức lí luận: văn
học là gì, các chức năng văn học, thể loại
3. Chuyên đề 2:
văn học, nhà văn và quá trình sáng tác, văn
Tìm hiểu về một số
học và sự tiếp nhận văn học...
vấn đề lí luận
3.2. Hướng dẫn cách vận dụng lí luận văn
văn học.
học trong làm văn nghị luận.
4.1. Khái quát chung về văn học trung đại
Việt Nam: thành phần cấu tạo, các nội dung
chính, đặc điểm thi pháp...
4. Chuyên đề 3:
4.2. Giới thiệu chi tiết về văn học trung đại
Khái quát về
Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ VI đến thế kỉ
văn học trung đại
XVIII.
Việt Nam
4.3. Các bài tập củng cố chuyên đề.
5.1. Giới thiệu khái quát về tác giả và tập
“Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ.
5. Chuyên đề 3:
5.2. Tìm hiểu chi tiết về “Chuyện người con
Nguyễn Dữ và tập
gái Nam Xương”
“Truyền kì mạn
5.3. Luyện đề củng cố kiến thức chuyên đề.
lục”
6.1. Rèn luyện các kĩ năng xác định đề, xây
dựng dàn ý, dựng đoạn, hành văn, khái quát,
liên hệ, nâng cao, vận dụng lí luận văn học...
6. Chuyên đề 4:
6.2. Kết hợp luyện đề với kiến thức các
Kĩ năng làm văn
chuyên đề đã học và các kiến thức mở rộng,
nghị luận.
tổng hợp.
Trang 1
Tháng 10/ 20..
Tháng 11/ 20..
Tháng 11/20..
Tháng 12/20..
Tháng 1/20..
7. Chuyên đề 5:
“Truyện Kiều”
Nguyễn Du
8. Chuyên đề 6:
Tác giả Nguyễn
Đình Chiểu và
“Truyện Lục
Vân Tiên”.
9. Chuyên đề 8:
Văn học hiện đại
Việt Nam từ sau
Cách mạng tháng
Tám 1945.
7.1. Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và tác
phẩm “Truyện Kiều”.
7.2. Tìm hiểu chi tiết các đoạn trích học và
đọc thêm trong “Truyện Kiều”.
7.3. Luyện đề với các kiểu bài: thuyết minh,
nghị luận, đặc biệt là các đề văn nâng cao
mang tính khái quát so sánh.
8.1. Giới thiệu chung về tác giả và tác
phẩm.
8.2. Tìm hiểu chi tiết các đoạn trích học và
các văn bản khác của tác giả để hiểu thêm
vẻ đẹp thơ văn và tâm hồn nhà thơ Nguyễn
Đình Chiểu.
8.3. Luyện đề khắc sâu kiến thức và tiếp tục
rèn luyện kĩ năng làm văn.
9.1. Khái quát những nét lớn về lịch sử Việt
Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 và
những đặc điểm của tình hình văn học thời
kì này.
9.2. Tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm tiêu
biểu được học trong chương trình.
9.3. Tìm hiểu một số hình tượng chủ yếu
của văn học giai đoạn này: hình tượng
người lính, người lao động, người phụ nữ...
9.4. Luyện đề về văn học hiện đại Việt
Nam.
Trang 2
Tháng 2,3/20..
10.1. Củng cố kiến thức cơ bản và nâng cao
trong chương trình.
10.2. Hệ thống những nét lớn từng thời kì
văn học, từng chủ đề, so sánh, đối chiếu các
vấn đề có sự tương đồng trong kiến thức
10. Ôn tập tổng hợp chương trình.
và luyện đề
10.3 Luyện đề tổng hợp, kết hợp với việc
tiếp tục rèn kĩ năng làm văn của HS: làm
văn nghị luận văn học và nghị luận xã hội.
11.1.Ngoài các bước tiến hành ôn tập nh
trên, GV tích cực ra đề kiểm tra đánh giá,
HS làm bài, chấm chữa bằng nhiều hình
thức khác nhau.
11.2. Bổ sung những kiến thức về các văn
bản khác trong chương trình (một số văn
bản nước ngoài, các văn bản học thêm...),
đặc biệt có thể còn có kiến thức của các lớp
6,7,8
11.3 Giải đáp các thắc mắc của HS.
11.4. Chuẩn bị điều kiện tốt nhất để HS tự
tin tham gia kì thi HSG các cấp.
Trang 3
MỘT SỐ NỘI DUNG THAM KHẢO
PHẦN VĂN NGHỊ LUẬN
A. MỤC TIÊU:
- Giúp HS củng cố kiến thức về văn nghị luận đã học ở các lớp 7,8.
- Hiểu thêm về một số kiểu bài nghị luận trong chương trình Ngữ văn 9: nghị luận về
một sự việc, hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí; nghị luận
về một tác phẩm thơ, truyện hoặc một đoạn trích trong tác phẩm văn học.
- Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận: kĩ năng xác định đề, kĩ năng lập ý, dựng đoạn,
kĩ năng diễn đạt ...
- Đây là những kiến thức xuyên suốt trong năm học lớp 9 nhưng vì sau mỗi chuyên
đề ngoài việc cung cấp kiến thức về tác giả, tác phẩm còn có phần luyện đề nên nội
dung kiến thức về văn nghị luận được tìm hiểu sớm góp phần rèn kĩ năng tổng hợp
cho HS trong học tập môn Ngữ văn.
B. CHUẨN BỊ:
- Tài liệu tham khảo:
+ Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông (Nguyễn Quốc Siêu)
+ Nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận (Nhà xuất bản GD, nhiều tác giả)
+ Tập làm văn THCS (Tạ Đức Hiền)
+ Dạy học Tập làm văn THCS (Nguyễn Trí, NXB GD)...
- GV tổng hợp lí thuyết về văn nghị luận và các bài tập rèn luyện kĩ năng.
- HS củng cố kiến thức về văn nghị luận đã học và đọc tài liệu bổ sung kiến thức.
C. NỘI DUNG:
I. Ôn tập văn nghị luận:
- Khái quát chung về văn nghị luận: đặc điểm của văn nghị luận, đề văn nghị luận,
lập ý cho bài văn nghị luận (phần này GV hướng dẫn HS tự ôn tập theo kiến thức
Ngữ văn 7)
- Phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận: phép lập luận chứng minh, phép lập
luận giải thích, xây dựng và trình bày luận điểm trong văn nghị luận...(phần này GV
hướng dẫn HS tự ôn tập theo kiến thức Ngữ văn 8)
- Các yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả rtong văn nghị luận.
- GV chú ý các tiêu chí của dẫn chứng văn chứng minh, lí lẽ trong văn giải thích.
II. Giới thiệu các kiểu bài nghị luận trong chương trình Ngữ văn 9.
1. Phần lí thuyết:
a. GV cung cấp các kiến thức lí thuyết cơ bản về các kiểu bài nghị luận: khái niệm,
nội dung nghị luận, hình thức - bố cục bài văn nghị luận, dàn bài chung của các kiểu
bài:
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
- Nghị luận về một vấn đề t tuởng, đạo lí.
- Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc một đoạn trích).
- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
b. GV chú ý phân biệt giữa các kiểu bài nghị luận:
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống lấy sự việc, hiện tượng đời sống làm
đối tượng chính; nghị luận vè một vấn đề tư tưởng đạo lí lấy tư tưởng đạo lí làm đối
tượng chính. Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống đi từ sự việc, hiện tượng
cụ thể mà nâng lên thành vấn đề tư tưởng đạo đức; nghị luận về một vấn đề tư tưởng
đạo lí thì từ vấn đề tư tưởng đạo đức mà suy nghĩ về cuộc sống xã hội sau khi được
Trang 4
giải thích, phân tích thì vận dụng các sự việc, thực tế đời sống để chứng minh nhằm
trở lại khẳng định (hay phủ định) một t tổng nào đó.
- Nghị luận về một tác phẩm truyện (về nội dung, nghệ thuật, nhân vật, đoạn tích của
tác phẩm) cần chú ý tới các đặc điểm của truyện: kết cấu, tình huống, chi tiết, sự việc,
ngôn ngữ nhân vật... Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần chú ý tới các đặc điểm
của thơ: ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, cảm xúc, vần nhịp, các biện pháp tu từ ...
2. Kĩ năng làm bài văn nghị luận:
a. Kĩ năng xác định đề:
- Đọc kĩ đề, lu ý những từ ngữ quan trọng gợi hướng làm bài.
- Xác định đúng kiểu bài nghị luận để tránh nhầm lẫn về phương pháp .
- Xác định nội dung nghị luận để tránh lạc đề.
- Xác định phạm vi t liệu cho bài viết.
- GV đặc biệt lu ý kiểu ra đề có mệnh lệnh và không có mệnh lệnh, những đề mở để
HS làm quen với những yêu cầu mới trong làm văn nghị luận, nhất là các đề nghị
luận xã hội.
b. Kĩ năng tìm ý và lập dàn ý:
- Một bài văn hay trước hết là phải có những ý hay. Ý hay là ý đúng, sâu, mới và
riêng. Khi tìm ý cần chú ý một số vấn đề sau:
+ Có những nhận xét khái quát từ những vấn đề nổi bật, tiêu biểu trong nội dung
nghị luận.
+ Đề xuất luận điểm từ sự so sánh những nội dung, đối tượng cùng loại.
+ Xây dựng ý từ những ý kiến phản đề.
+ Đặt các câu hỏi tìm ý, nhất là đối với kiểu bài nghị luận xã hội...
- Lập dàn ý, sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lí.
c. Kĩ năng dựng đoạn:
- Viết đoạn mở bài:
+ Mở bài theo cách trực tiếp.
+ Mở bài theo cách gián tiếp (chú ý rèn kĩ đối với HSG).
- Viết các đoạn trong phần thân bài:
+ Các cách lập luận: diễn dịch, quy nạp, tổng hơp - phân tích...
+ Kĩ năng liên kết giữa các đoạn văn: sử dụng từ ngữ, câu để liên kết.
- Viết đoạn kết bài:
+ Xây dựng đoạn kết bài tương ứng với mở bài.
+ Các cách kết bài mở...
* Trong quá trình dựng đoạn, chú ý kĩ năng dùng từ, đặt câu, phát triển ý để
tăng chất văn và độ sâu sắc cho bài viết. Kết hợp các kiến thức GV cung cấp, các ví
dụ minh hoạ, cần dành thời gian cho HS luyện viết và chấm chữa, phát huy tính sáng
tạo của HS trong làm văn.
Trang 5
Chuyên đề
TỪ VĂN BẢN ĐẾN BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
A. CƠ SƠ LÍ LUẬN
Tích hợp là quan điểm cơ bản của việc đổi mới nội dung chương trình SGK và
đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn Ngữ văn của nhiều năm nay. Trong
chương trình SGK Ngữ văn THCS, các tác giả biên soạn đã thể hiện rất rõ quan điểm
tích hợp này ở mọi hình thức: tích hợp ngang giữa các phân môn, tích hợp dọc, tích
hợp đồng tâm... Sự đổi mới này không chỉ giúp HS có được kiến thức tổng hợp mà
còn có kĩ năng tốt hơn trong quá trình học và làm văn.
Trong các kiểu làm văn, SGK Ngữ văn cũng đã thực sự chú ý đến kĩ năng vận
dụng kiến thức tác phẩm để phục vụ cho các bài làm văn nghị luận văn học nh: chứng
minh, giải thích, phân tích một đoạn thơ, đoạn truyện hoặc một tác phẩm thơ, một tác
phẩm truyện. Bên cạnh đó còn có kiểu bài nghị luận xã hội giúp HS không chỉ rèn
luyện tốt kĩ năng làm văn nghị luận mà còn có thêm cách nhìn, cách nghĩ về xã hội
sâu sắc hơn, nhận thức được rõ hơn vai trò của mỗi cá nhân trước những vấn đề xã
hội ngày nay.
Có một điều thật lí thú là trong các tác phẩm văn học được học trong chương
trình Ngữ văn, mỗi tác phẩm không chỉ là một bức tranh thu nhỏ của cuộc sống, là
một nét tâm hồn của con người mà những tác phẩm đó còn có khả năng bồi đắp tâm
hồn người đọc, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời và con người quanh ta.
Chính vì vậy các tác phẩm văn học này thực sự đã trở thành một nguồn tư liệu quý, là
những đề tài phong phú cho bài làm văn nghị luận xã hội. Việc vận dụng kiến thức có
trong văn bản vào làm văn nghị luận xã hội không chỉ giúp HS củng cố lại kiến thức
văn bản mà còn giúp các em thành thạo hơn về kĩ năng làm văn và biết đi từ văn học
đến cuộc sống.
Bài viết này xin được bàn về kĩ năng vận dụng kiến thức văn bản được học
trong chương trình Ngữ văn đến việc làm văn nghị luận xã hội với mục đích khẳng
định tác dụng của quan điểm tích hợp trong đổi mới phương pháp dạy học và bàn
thêm về kĩ năng làm văn của HS trong nhà trường.
B. NỘI DUNG CHÍNH.
I. Ý nghĩa xã hội của các tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn.
Văn học Việt Nam, cả văn học dân gian và văn học viết là sản phẩm tinh thần
quý báu của dân tộc, phản ánh tâm hồn và tính cách Việt Nam với những nét bền
vững đã thành truyền thống và có sự vận động trong trường kì lịch sử. Mỗi thời kì,
mỗi giai đoạn, văn học lại có những nội dung cụ thể, phản ánh một cách chân thực về
xã hội và con người thời kì đó. Vốn có tinh thần cộng đồng ngay từ buổi đầu hình
thành dân tộc, lại phải trải qua nhiều cuộc xâm lăng, phải thường xuyên vật lộn với
những khắc nghiệt của thiên nhiên để sinh tồn và phát triển nên tinh thần yêu nước, ý
thức cộng đồng đã trở thành truyền thống sâu sắc và bền vững của dân tộc Việt Nam.
Tư tưởng yêu nước thể hiện trong tinh thần phục hng dân tộc ở thời Lí, trong hào khí
Đông A thời Trần, trong ý thức sâu sắc và đầy tự hào về đất nước, về dân tộc ở thơ
văn Nguyễn Trãi. Tinh thần ấy lại sôi nổi, mạnh mẽ, thiết tha hơn bao giờ hết trong
thơ văn chống Pháp, trong văn học yêu nước đầu thế kỉ XX, đặc biệt là trong văn học
của hai thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Tinh thần yêu nước còn thể
Trang 6
hiện trong những rung động và niềm yêu mến, tự hào về quê hương, thiên nhiên đất
nước, tự hào về tiếng nói của dân tộc...
Các sáng tác văn học còn đề cao tinh thần nhân đạo - tình yêu thương con
người - một truyền thống sâu đậm của văn học Việt Nam. Tất cả đều hướng về khẳng
định những giá trị tốt đẹp của con người, lên tiếng mạnh mẽ bênh vực cho quyền
sống của con người đồng thời nói lên khát vọng về hạnh phúc, mơ ước về tự do, lẽ
công bằng. Nhiều tác phẩm hướng tinh thần nhân đạo vào những tầng lớp nghèo khổ,
tố cáo mạnh mẽ những bất công xã hội, những thế lực thống trị, áp bức và lên tiếng
đòi quyền sống xứng đáng cho con người. Các tác phẩm văn học mới đặc biệt hướng
vào khẳng định những phẩm chất tốt đẹp và sức mạnh giải phóng của quần chúng
nhân dân lao động, ngợi ca những tình cảm cộng đồng nh tình đồng chí, đồng bào.
Nhiều tác phẩm đề cập đến những vấn đề gần gũi thiết thực trong đời sống tinh
thần của mỗi con người nh tình cảm gia đình, sự giật mình thức tỉnh của lơng tâm
trước vòng xoáy cuộc đời, truyền thống uống nước nhớ nguồn, những bài học đạo
đức nhẹ nhàng mà sâu sắc về cái đẹp, tình yêu thương loài vật...
Văn học Việt Nam có lịch sử lâu dài, gắn bó mật thiết với lịch sử, với vận
mệnh của nhân dân, lu giữ và toả chiếu tinh hoa, bản sắc tâm hồn dân tộc qua các thời
đại; là vốn quý của nền văn hoá dân tộc; nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn, tính cách, tư
tưởng cho các thế hệ người Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Tất cả các nội dung
đó đều mang một ý nghĩa xã hội sâu sắc và đều có thể trở thành một đề tài độc đáo
cho các bài làm văn nghị luận, nhất là kiểu bài làm văn nghị luận xã hội.
II. Đặc trưng của kiểu bài nghị luận xã hội.
Văn bản nghị luận được tạo lập nhằm giải quyết một vấn đề nào đó đặt ra trong
cuộc sống. Người viết sẽ trình bày các tư tưởng, quan điểm của mình về vấn đề đặt ra
nhằm thuyết phục người đọc tán thành và làm theo. Vấn đề càng có ý nghĩa xã hội
sâu rộng, văn bản nghị luận càng có giá trị. Nghệ thuật nghị luận càng sắc bén, chặt
chẽ, văn bản càng có tác dụng rộng rãi và mạnh mẽ. Nghị luận xã hội là một lĩnh vực
rất rộng lớn, từ bàn bạc những sự việc, hiện tượng đời sống đến bàn luận những vấn
đề chính trị, chính sách, từ những vấn đề đạo đức, lối sống đến những vấn đề có tầm
chiến lợc, những vấn đề tư tưởng triết lí.
Hình thức nghị luận thứ nhất là nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.
Vốn sống của học sinh bắt đầu từ nhận thức về từng sự việc trong đời sống hàng
ngày: một vụ cãi lộn, đánh nhau, một vụ đụng xe dọc đường, một việc quay cóp khi
làm bài, một hiện tượng nói tục, chửi bậy, thói ăn vặt xả rác, trẻ em hút thuốc lá, đam
mê trò chơi điện tử, bỏ bê học tập... Các sự việc, hiện tượng nh thế học sinh nhìn thấy
hằng ngày ở xung quanh nhưng ít có dịp suy nghĩ, phân tích, đánh giá chúng về các
mặt đúng - sai, lợi - hại, tốt - xấu... Bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng xung
quanh mà các em không xa lạ, từ những suy nghĩ của bản thân mà viết những bài văn
nghị luận nêu tư tưởng, quan niệm, đánh giá đúng đắn của mình. Đó có thể coi là một
hình thức nghị luận phù hợp với kinh nghiệm lứa tuổi và trình độ suy luận của học
sinh.
Hình thức nghị luận thứ hai là nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí bàn về
một tư tưởng, đạo đức, lối sống có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con người.
Các tư tưởng đó thường được đúc kết trong những câu tục ngữ, danh ngôn, ngụ ngôn,
khẩu hiệu hoặc khái niệm. Những tư tưởng, đạo lí ấy thường đựơc nhắc đến trong đời
Trang 7
sống song hiểu cho rõ, cho sâu, đánh giá đúng ý nghĩa của chúng là một yêu cầu cần
thiết đối với mỗi người.
Bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có phần giống với bài nghị luận về về
một sự việc, hiện tượng đời sống ở chỗ: sau khi phân tích sự việc, hiện tượng, người
viết có thể rút ra những tư tưởng và đạo lí đời sống. Nhưng hai kiểu bài này khác
nhau về xuất phát điểm và lập luận. Về xuất phát điểm, bài nghị luận về một sự việc,
hiện tượng đời sống xuất phát từ sự thực đời sống mà nêu tư tưởng, bày tỏ thái độ.
Bài nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí, sau khi giải thích, phân tích thì vận dụng các
sự thật đời sống để chứng minh nhằm trở lại khẳng định (hay phủ định) một tư tưởng
nào đó. Đây là nghị luận nghiêng về tư tưởng, khái niệm, lí lẽ nhiều hơn; các phép
lập luận giải thích, chứng minh, tổng hợp thường được sử dụng nhiều.
Như vậy, kiểu bài nghị luận xã hội trước hết được dùng để bàn luận, đánh giá,
nhận xét về những vấn đề xã hội, những hiện tượng, sự việc hoặc những vấn đề tư
tưởng đạo lí trong đời sống xã hội, đời sống tinh thần của con người. Nh trên đã chỉ
ra, các tác phẩm văn học cũng trở thành một nguồn đề tài vô cùng phong phú, có
nhiều nội dung trở thành đối tượng của kiểu bài nghị luận. Trong chương trình Ngữ
văn 9, nhiều tác phẩm đã tái hiện cuộc sống đất nước và hình ảnh con người Việt
Nam trong suốt thời kì lịch sử từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. Đất nước và con
người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ với nhiều gian
khổ, hi sinh nhưng rất anh hùng, công cuộc lao động xây dựng đất nước và những
quan hệ tốt đẹp của con người. Những điều chủ yếu mà các tác phẩm đã thể hiện
chính là tâm hồn, tình cảm, tư tưởng con người trong một thời kì lịch sử có nhiều
biến động lớn lao, những đổi thay sâu sắc: tình yêu quê hương đất nước, tình đồng
chí, sự gắn bó với cách mạng, lòng kính yêu Bác Hồ, những tình cảm gần gũi bền
chặt của con người nh tình bà cháu, tình mẹ con trong sự thống nhất chung những
tình cảm rộng lớn. Dưới đây là một số ví dụ cụ thể để minh chứng và có thể coi là
một tư liệu vận dụng trong quá trình giảng dạy nhằm mục đích củng cố sâu sắc hơn
kiến thức đọc hiểu của học sinh, khả năng liên hệ đến thực tế và rèn thêm kĩ năng làm
văn nghị luận xã hội cho các em.
III. Từ văn bản đến bài văn nghị luận xã hội.
1. Yêu cầu chung của bài văn nghị luận xã hội lấy đề tài từ các văn bản.
a. Mục đích kiểu bài:
- Củng cố kiến thức văn bản cho học sinh, giúp các em hiểu thêm về ý nghĩa
của văn chương trong đời sống xã hôi. Khẳng định tính giáo dục, tính tư tưởng của
tác phẩm, và bồi đắp thêm tình cảm cho học sinh với văn học, tình cảm với cuộc
sống, con người xung quanh.
- Rèn luyện kĩ năng làm văn, khả năng liên hệ và đánh giá một vấn đề văn học
mang tính xã hội.
b. Xác định đúng kiểu bài: Nghị luận xã hội (Phần lớn là nghị luận về một vấn đề tư
tưởng đạo lí).
c. Xác định nội dung nghị luận của đề bài yêu cầu:
- Đề có thể yêu cầu rõ, nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí đã được xác
định trong nội dung bài học. Ví dụ: lí tưởng của thanh niên ngày nay (được gợi ý từ
văn bản “Lặng lẽ Sa Pa”), ý nghĩa của gia đình và quê hương trong đời sống con
Trang 8
người (được gợi ý từ văn bản “Nói với con”), mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể
(được gợi ý từ kịch “Tôi và chúng ta”, “Mùa xuân nho nhỏ”)...
- Đề có thể mở để học sinh chọn lựa nội dung nghị luận, bàn sâu vào một vấn
đề nào đó được gợi ý từ văn bản đã học. Ví dụ: vẻ đẹp của đức tính khiêm nhường
em học được trong ý thơ Thanh Hải trong bài “Mùa xuân nho nhỏ”, và cũng ở đó có
thể chọn nội dung nghị luận khác quan niệm về sự cống hiến của mỗi cá nhân với quê
hương, với cuộc đời chung...
d. Các nội dung chính trong bài viết:
- Trước hết học sinh hiểu và phải trình bày được những ý hiểu của mình về nội
dung mà tác phẩm đề cập đến. Đây là ý phụ trong bài viết nhưng không thể thiếu và
cũng không làm quá kĩ dễ lạc sang kiểu bài nghị luận văn học. Học sinh bằng sự phân
tích để đi đến khái quát nội dung xã hội cần nghị luận.
- Nội dung chính của bài viết là các em cần trình bày những hiểu biết của bản
thân về vấn đề xã hội được nhắc đến trong văn bản bằng vốn kiến thức thực tế trong
cuộc sống, thực trạng của vấn đề với các mặt tốt - xấu, đúng - sai, cũ - mới... Từ đó
bày tỏ thái độ, quan điểm và đa ra những giải pháp, liên hệ mở rộng vấn đề , giải
quyết vấn đề sâu sắc và thuyết phục.
e. Hình thức của bài viết:
- Bài viết đảm bảo bố cục thông thường một bài văn nghị luận: mở bài, thân
bài và kết luân. Các đoạn văn trong bài có tính liên kết chặt chẽ cả về nội dung và
hình thức.
- Diễn đạt bằng các hình thức lập luận của văn nghị luận: giải thích, chứng
minh, phân tích, tổng hợp. Dẫn chứng của kiểu bài này có phạm vi rộng, nhiều nhất là
trong đời sống xã hội và có thể trong cả văn học, lịch sử...
2. Một số đề văn nghị luận xã hội từ các văn bản.
Đề số 1: Trong bài thơ “Con cò” nhà thơ Chế Lan Viên có viết:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”
Ý thơ gợi cho em những suy nghĩ gì về tình mẹ trong cuộc đời của mỗi con
người.
Để làm được đề bài này, học sinh cần xác định đúng các yêu cầu sau:
- Kiểu bài: Nghị luận xã hội (nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí)
- Nội dung nghị luận: Vẻ đẹp (ý nghĩa) của tình mẹ trong cuộc đời mỗi con người.
- Phạm vi tư liệu: Những hiểu biết và suy nghĩ của cá nhân về tình mẹ trong cuộc
sống của mỗi người.
- Các nội dung cần viết:
+ Giải thích qua ý thơ của tác giả Chế Lan Viên (ý phụ): Dựa trên nội dung bài
thơ “Con cò”, đặc biệt là hai câu thơ mang ý nghĩa triết lí sâu sắc khẳng định tình mẹ
bao la, bất diệt. Trước mẹ kính yêu, con dù có khôn lớn trưởng thành nh thế nào đi
chăng nữa thì vẫn là con bé nhỏ của mẹ, rất cần và luôn được mẹ yêu thương, che chở
suốt đời.
+ Khẳng định vai trò của mẹ trong cuộc sống của mỗi người (ý chính): Mẹ là
người sinh ra ta trên đời, mẹ nuôi nấng, chăm sóc, dạy dỗ chúng ta. Mẹ mang đến cho
con biết bao điều tuyệt vời nhất: nguồn sữa trong mát, câu hát thiết tha, những nâng
đỡ, chở che, những yêu thương vỗ về, mẹ là bến đỗ bình yên của cuộc đời con, là
Trang 9
niềm tin, là sức mạnh nâng bước chân con trên đường đời,... Công lao của mẹ nh
nước trong nguồn, nước biển Đông vô tận. (Dẫn chứng cụ thể)
+ Mỗi chúng ta cần phải làm gì để đền đáp công ơn của mẹ? Cuộc đời mẹ
không gì vui hơn khi thấy con mình mạnh khoẻ, chăm ngoan, giỏi giang và hiếu thảo.
Mỗi chúng ta cần rèn luyện, học tập và chăm ngoan để mẹ vui lòng: vâng lời, chăm
chỉ, siêng năng, học giỏi, biết giúp đỡ cha mẹ...(Có dẫn chứng minh hoạ).
+ Phê phán những biểu hiện, những thái độ, hành vi cha đúng với đạo lí làm
con của một số người trong cuộc sống hiện nay: cãi lại cha mẹ, ham chơi, làm những
việc vi phạm pháp luật để mẹ lo lắng, đau lòng... Có thể phê phán tới cả những hiện
tượng mẹ ruồng rẫy, vất bỏ con, cha làm tròn trách nhiệm của người cha, người mẹ...
+ Liên hệ, mở rông đến những tình cảm gia đình khác: tình cha con, tình cảm
của ông bà và các cháu, tình cảm anh chị em để khẳng định đó là những tình cảm bền
vững trong đời sống tinh thần của mỗi người. Vì vậy mỗi chúng ta cần gìn giữ và
nâng niu. Tình cảm gia đình bền vững cũng là cội nguồn sức mạnh dựng xây một xã
hội bền vững, đẹp tươi.
Đề số 2: Lấy tựa đề “Gia đình và quê hương - chiếc nôi nâng đỡ đời con”,
hãy viết một bài nghị luận nêu suy nghĩ của em về nguồn cội yêu thương của mỗi con
người.
- Đề bài này được dựa trên nội dung, ý nghĩa của bài thơ “Nói với con” của
nhà thơ Y Phương, một bài thơ đã viết rất thành công về gia đình và quê hương bằng
phong cách rất riêng của một nhà thơ dân tộc.
- Bài viết của học sinh trên cơ sở kiến thức văn bản đó cần đảm bảo các yêu
cầu sau:
+ Khẳng định ý nghĩa của gia đình và quê hương trong cuộc sống của mỗi con
người: Gia đình là nơi có mẹ, có cha, có những người thân yêu, ruột thịt của chúng ta.
Ở nơi ấy chúng ta được yêu thương, nâng đỡ, khôn lớn và trưởng thành. Cùng với gia
đình là quê hương, nơi chôn nhau cất rốn của ta. Nơi ấy có mọi nguời ta quen biết và
thân thiết, có cảnh quê thơ mộng trữ tình, có những kỉ niệm ngày ấu thơ cùng bè bạn,
những ngày cắp sách đến trường... Gia đình và quê hương sẽ là bến đỗ bình yên cho
mỗi con người; dù ai đi đâu, ở đâu cũng sẽ luôn tự nhắc nhở hãy nhớ về nguồn cội
yêu thương.
+ Mỗi chúng ta cần làm gì để xây dựng quê hương và làm rạng rỡ gia đình?
Với gia đình, chúng ta hãy làm tròn bổn phận của người con, người cháu: học giỏi,
chăm ngoan, hiếu thảo để ông bà, cha mẹ vui lòng. Với quê hương, hãy góp sức trong
công cuộc dựng xây quê hương: tham gia các phong trào vệ sinh môi trường để làm
đẹp quê hương, đấu tranh trước những tệ nạn xã hội đang diễn ra ở quê hương. Khi
trưởng thành trở về quê hương lập nghiệp, dựng xây quê mình ngày một giầu đẹp...
+ Có thái độ phê phán trước những hành vi phá hoại cơ sở vật chất, những suy
nghĩ cha tích cực về quê hương: chê quê hương nghèo khó, chê người quê lam lũ, lạc
hậu, làm thay đổi một cách tiêu cực dáng vẻ quê hương mình...
+ Liên hệ, mở rộng đến những tác phẩm viết về gia đình và quê hương để thấy
ý nghĩa của quê hương trong đời sống tinh thần của mỗi con người: “Quê hương” (Đỗ
Trung Quân), “Quê hương” (Giang Nam), “Quê hương” (Tế Hanh), “Nói với con” (Y
Phương)...
Trang 10
+ Nâng cao: Nguồn cội của mỗi con người là gia đình và quê hương, nên hiểu
rộng hơn quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, quê hương còn là Tổ quốc;
tình yêu gia đình luôn gắn liền với tình yêu quê hương, tình yêu đất nước. Mỗi con
người luôn có sự gắn bó những tình cảm riêng t với những tình cảm cộng đồng ...
Đề số 3: Trước khi vĩnh biệt cõi đời, nhà thơ Thanh Hải gửi lại lời trăng trối
bằng những thật câu thơ giản dị:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mơi
Dù là khi tóc bạc.”
(Trích “Mùa xuân nho nhỏ”)
Theo em tác giả đã nhẹ nhàng nhắc chúng ta điều gì qua những dòng thơ ấy?
Bài viết của học sinh cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Hiểu khái quát về ý thơ của nhà thơ Thanh Hải: Những câu thơ bày tỏ những
suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước, thể hiện khát vọng
được hoà nhập vào cuộc sống của đất nước, được cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé
của mình cho đất nước, cho cuộc đời chung. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một
cách chân thành trong những tình ảnh thơ đệp một cách tự nhiên, giản dị. Đó mới là ý
nghĩa cao quý của đời người.
- HS có thể bàn luận sâu về một trong các ý sau :
+ Vẻ đẹp của đức tính khiêm nhờng, thái độ của mỗi cá nhân trước những cống
hiến vì tập thể, vì quê hương. HS cần nêu rõ khiêm nhờng là gì, biểu hiện của đức
tính khiêm nhờng, ý nghĩa của đức tính khiêm nhờng trong cuộc sống, trái với khiêm
nhờng là tự kiêu, tự đại...
+ Ý nghĩa của cuộc đời mỗi con người trong cuộc đời chung: Mỗi người phải
mang đến cho cuộc đời chung một nét đẹp riêng, phải cống hiến cái phần tinh tuý, dù
là bé nhỏ cho đất nước và phải không ngừng cống hiến dù khi còn trẻ hay lúc tuổi đã
già.
- Trong bài viết cần có dẫn chứng về người thật, việc thật hoặc các dẫn chứng
có từ trong các tác phẩm văn học được học và đọc thêm trong chương trình nh: “Lặng
lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long), “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê), “Khoảng
trời, hố bom” (Lâm Thị Mĩ Dạ)...
- Liên hệ tới bản thân về thái độ sống khiêm nhờng trước mọi người, trước bạn
bè (Nếu chọn ý 1). Hoặc liên hệ tới bản thân khi còn là học sinh cần làm gì để góp
phần
vào việc dựng xây quê hương, đất nước, xây đắp cuộc đời chung (Nếu chọn ý 2).
Trang 11
Đề số 4: Nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn “Bến quê” (Nguyễn Minh Châu) vào
những ngày cuối cùng của cuộc đời mình đã tìm thấy vẻ đẹp quê hương nơi bãi bồi
bên kia sông ngay trước của sổ nhà mình. Sự phát hiện đó của Nhĩ gợi cho em suy
nghĩ gì về cái đẹp trong cuộc sống?
- HS phải xác định được bài viết thuộc kiểu bài nghị luận xã hội-nghị luận về
một vấn đề t tởn: Quan niệm về cái đẹp trong cuộc sống của mỗi con người.
- Bài làm cần đảm bảo cơ bản các nội dung sau:
+ Phân tích được tâm trạng của nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời khi
phát hiện ra bãi bồi bên kia sông, ngay trước của sổ nhà mình. Nhĩ trước đó từng đi
khắp mọi nơi trên trái đất nhưng về cuối đời anh mắc bệnh trọng nằm liệt giêng mọi
hoạt động của anh đều phải nhờ vào người thân. Chính lúc này anh mới nhận ra vẻ
đẹp của những cánh hoa bằng lăng, của mặt sông Hồng màu đỏ nhạt, một dải đất bồi
dấp dính phù sa, của những sắc màu thân thuộc nh da thịt, nh hơi thở thân thuộc. Đó
là những phát hiện vừa mới mẻ, vừa muộn màng gửi gắm tâm trạng của một con
người nặng trĩu những từng trải, đau thương: yêu quê hương nhưng một đời phải li
hương, thường hờ hững và mắc vào những điều vòng vèo, chùng chình nên bây giờ
cảm thấy tiếc nuối, xa xôi. Qua đó nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi đến mọi
người một thông điệp: Cái đẹp thật gần gũi, cái đẹp nằm ngay trong những điều giản
dị, tiêu sơ của cuộc đời mà mỗi người vì sự thờ ơ có thể lãng quên.
+ Khẳng định cái đẹp nằm trong những điều giản dị, gần gũi: cái đẹp trong lời
ăn tiếng nói, trong trang phục giản dị hợp người hợp cảnh, trong gia đình với ngôi
nhà sạch sẽ gọn gàng, trong cách trang trí nhẹ nhàng thanh thoát không một chút cầu
kì, phô Trương; cái đẹp trong một buổi sớm mai trên con đường quen thuộc từ nhà
đến trường, trong những bông hoa dại ven đường mong manh bé nhỏ; cái đẹp trong
những cử chỉ thân mật gắn bó giữa bạn bè...
+ Con người cần phải tự ý thức để nhận ra và trân trọng những giá trị và vẻ đẹp
bình dị, đích thực của cuộc sống. Trước hết mỗi người phải biết yêu cái đẹp, trân
trọng và nâng niu vẻ đẹp trong cuộc đời. Mỗi người phải biết tạo ra cái đẹp cho mình
và cho mọi người để tô điểm cho cái đẹp của cuộc sống quanh ta. Có thể liên hệ tới
những câu nói “Ăn cho mình mặc cho người” hoặc “Không có người phụ nữ náo xấu,
chỉ có những người phụ nữ không biết làm đẹp mà thôi”
+ Phê phán những quan niệm sai lầm về cái đẹp của nhiều người trong cuộc
sống hiện nay: đẹp là phải ăn mặc sành điệu, đúng mốt hợp thời trang, đẹp là phải
sống trong ngôi nhà cao tầng trang trí cầu kì sang trọng trong khi chủ nhân của những
trang phục, ngôi nhà đó sống cha đẹp; đẹp là phải đi đến những nơi xa lạ, những nơi
có danh lam thắng cảnh trong khi người khách du lịch ấy cha nhận thức đúng đắn về
việc giữ gìn môi trường xung quanh, xem thường những nơi từng gắn bó, thân quen
từ trước...
+ Từ đó biết làm đẹp cho mình một cách phù hợp, làm đẹp cho quê hương, cho
cuộc đời chung, biết trân trọng những giá trị đích thực, giản dị và bền vững của cuộc
đời. Liên hệ đến ý thơ của tác giảTố Hữu:
“Còn gì đẹp trên đời hơn thế.
Người với người sống để yêu nhau.”
Yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng là một cách sống đẹp.
Trang 12
Đề số 5: Từ nhan đề và ý nghĩa vở kịch: “Tôi và chúng ta” của tác giả Lu
Quang Vũ, hãy viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa cá
nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay.
- HS cần xác định đúng ...
 






Các ý kiến mới nhất